Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

Thời sự

Hội chứng nhiệm kỳ

vietnamnet.vn - 8 giờ trước

- Không ít người suy nghĩ và hành động rất thực dụng. Nếu có thể tiếp tục làm khóa tới hoặc có thể"lên" thì thu mình cho tròn, tránh mọi va chạm để dễ được bầu, cử lại; nếu là nhiệm kỳ thứ hai hoặc sắp về hưu thì tập trung lo thu vén cá nhân: nhận nhà, xin đất, sắp xếp công việc cho người thân, phe cánh.

>> Bỏ đánh giá kiểu ’né’
>> Những người cản trở đổi mới

Nhiệm kỳ là thời hạn giữ chức vụ. Thời hạn đó thường được định ra trước trong các văn bản chính thức. Chắc người đầu tiên dùng nhóm từ"tư duy nhiệm kỳ" cũng không nghĩ rằng ngày nay nó được dùng phổ biến như vậy, dù nội dung chưa được minh định rõ ràng. Có người gọi"tư duy nhiệm kỳ" là"tranh thủ nhiệm kỳ công tác của mình để xoay xở, trục lợi". Có lẽ nên gọi những hành vi đó là chụp giật, tranh thủ vơ vét lúc đương chức thì đúng hơn .

Trong thực tế, chế độ nhiệm kỳ ảnh hưởng khá mạnh đến hoạt động của một số tổ chức, cơ quan, cá nhân được bầu hoặc được cử theo nhiệm kỳ. Tạm gọi đó là"hội chứng nhiệm kỳ" để nghiên cứu, khảo sát.

Né tránh, đùn đẩy

Thời hạn một nhiệm kỳ của đa số tổ chức được bầu ra ở nước ta như Quốc hội/ hội đồng nhân dân/ cấp ủy đảng là 5 năm. Thời hạn đó xem như"cứng" vì chỉ 5 năm mới tổ chức bầu cử/ đại hội đảng để bầu ra các cơ quan đó một lần.

mô tả ảnh.

Hội chứng nhiệm kỳ phụ thuộc nhiều vào việc người đứng đầu tới đây sẽ"lên","sang ngang" hay về hưu. Hình minh họa: macleodcartoons

Các chức danh do các cơ quan nói trên bầu ra như chủ tịch hội đồng, chủ tịch ủy ban, bí thư cấp ủy…thường cũng hưởng thời hạn nhiệm kỳ theo các cơ quan bầu ra họ, tuy điều này không hoàn toàn đúng. Trên nguyên tắc thì cơ quan bầu ra có thể"cắt" nhiệm kỳ của người đã được bầu bằng cách bầu người khác thay thế khi cần, trong phiên họp của cơ quan đó.

Khi được bầu ra, mỗi cá nhân và tổ chức thường có những ý tưởng, chương trình, kế hoạch, những lời hứa hẹn cải thiện mọi mặt công việc thuộc phạm vi trách nhiệm và cố gắng tìm cách hoàn thành những điều đó trong nhiệm kỳ. Đó là điều cần có và rất nên hoan nghênh, khuyến khích.

Hội chứng nhiệm kỳ là những mặt tiêu cực trong tư duy và hành vi của tổ chức và người đứng đầu, bị tác động bởi tính chất thời hạn của nhiệm kỳ.

Hội chứng nhiệm kỳ thường có một số biểu hiện:

Thay đổi nề nếp công việc đã hình thành đang hoạt động tốt, kèm theo đó là việc sắp xếp nhân sự. Thay đổi thường làm rối việc vì không xuất phát từ yêu cầu khách quan mà do người mới chủ quan, thiếu hiểu biết, phiến diện, có dụng ý riêng. Hội chứng này lặp lại qua các khóa, các đời thủ trưởng khiến nề nếp công việc, các mối quan hệ công tác không định hình, rất khó tiến bộ.

Thích làm các việc"hoành tráng", có tiếng, để ghi dấu ấn của cá nhân mình, khóa mình. Những việc đó thường là việc bề nổi, dễ làm, ngon ăn, nhưng không cơ bản. Để làm, họ bất chấp những điều kiện khách quan, những lãng phí gây ra do phải bỏ dở việc khóa trước để lại, bất chấp những lời can ngăn.

Tìm cách né tránh, trì hoãn những nhiệm vụ cơ bản nhưng thầm lặng, hoặc khó khăn, cần nhiều tâm lực, thời gian. Đùn đẩy trách nhiệm kết luận và xử lý những vấn đề gai góc nảy sinh trong nhiệm kỳ, vin cớ"chuyện thuộc nhiệm kỳ trước" để đẩy trách nhiệm cho khóa trước, người trước, hoặc vin cớ"chưa chín mùi" để"gói" lại,"chuyển giao" cho khóa sau. Nếu khóa sau cũng lặp lại cách làm này thì việc giải quyết vấn đề bị đẩy lùi vô thời hạn.

Đề bạt"đầu sai"

Những người mắc hội chứng nhiệm kỳ không lo công tác tổ chức cán bộ tầm dài, chỉ chăm chăm làm những việc sắp xếp nhân sự vừa được tiếng, vừa có lợi như đề bạt, sắp xếp người cùng cánh vế, những"đầu sai" được việc trước mắt vào bộ máy,"cài cắm" vào khóa sau; gạt ra hoặc vô hiệu hóa những người có đức, tài nhưng có ý kiến khác.

Không thực lòng tiếp thu kinh nghiệm, đánh giá đúng công lao, đóng góp của khóa trước, người đi trước. Có khuynh hướng lái mọi đánh giá, tổng kết công việc của khóa mình theo hướng ưu điểm nhiều hơn, khuyết điểm ít hơn so với thực tế. Có thành tích thì nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, có khuyết điểm không thể phủ nhận thì nhấn mạnh nguyên nhân khách quan.

Hội chứng nhiệm kỳ của tổ chức thường là do người đứng đầu chi phối, thể hiện hội chứng nhiệm kỳ của người đứng đầu, phụ thuộc khá rõ vào đạo đức, bản lĩnh, cá tính, văn hóa của họ. Nó cũng phụ thuộc nhiều vào đặc điểm"nhân thân" đứng đầu: là người trưởng thành tại chỗ hay được điều động từ nơi khác, khóa đầu hay khóa thứ hai, tới đây sẽ"lên" hay"sang ngang" hay về hưu.

Không ít người suy nghĩ và hành động rất thực dụng. Nếu có thể tiếp tục làm khóa tới hoặc có thể"lên" thì thu mình cho tròn, tránh mọi va chạm để dễ được bầu, cử lại; nếu là nhiệm kỳ thứ hai hoặc sắp về hưu thì tập trung lo thu vén cá nhân: nhận nhà, xin đất, sắp xếp công việc cho người thân, phe cánh; một số hối hả ra các quyết định về dự án, về nhân sự… bất chấp thủ tục, để lại hậu quả phức tạp về sau.

Đảng lãnh đạo trước hết bằng cách đề ra và tổ chức thực hiện cương lĩnh, đường lối và công tác tổ chức cán bộ. Đó là những nhiệm vụ chiến lược đòi hỏi tầm nhìn và hành động kiên trì, nhất quán, không thể hoàn thành ngay trong một khóa qua các khóa, tại các cấp, đòi hỏi thực hiện những việc căn cơ, phức tạp, phải dám đương đầu với những trở ngại. Hội chứng nhiệm kỳ rõ ràng trái với những yêu cầu này.

Đây chính là một nguyên nhân khiến một số nội dung quan trọng của cương lĩnh và chiến lược thực hiện chậm chạp, thậm chí bị bỏ qua.

Hội chứng nhiệm kỳ càng có khuynh hướng nặng hơn nếu các nghị quyết chỉ mới đề cập được những vấn đề chung về nguyên tắc; nếu các mối quan hệ trên - dưới, mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp còn nhiều điểm chưa rõ; nếu việc kiểm tra, giám sát không được cải thiện; nếu việc đánh giá và sử dụng cán bộ lãnh đạo vẫn chưa sát, đúng, còn bị nhiễu vì những cố gắng bề nổi để"tự thể hiện" của cán bộ, nhẹ xem xét thực chất.

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2009

Ferdinand Lassalle:Bàn về bản chất của Hiến pháp.

Bàn về bản chất của Hiến pháp
Bài nói của Ferdinand Lassalle(1825 - 1864) tại một buổi họp của hiệp hội công dân Berlin năm 1862
x-cafe chuyển ngữ



Thưa các ngài!

Tôi được yêu cầu đóng góp một tham luận cho cuộc họp quan trọng này, và tôi đã chọn một vấn đề, tự nó đã xứng đáng để bàn luận, bởi vì trước hết nó rất phù hợp với tình hình. Cụ thể ở đây tôi sẽ nói về bản chất của Hiến pháp.

Đầu tiên tôi có điều lưu ý, thưa các ngài, rằng tham luận của tôi sẽ là một tham luận chặt chẽ về mặt khoa học. Mặc dù vậy hoặc đúng hơn là sẽ không có ai trong các ngài lại không thể nắm bắt được bài tham luận này từ đầu đến cuối và hoàn toàn không hiểu gì.

Bởi vì tính khoa học thực sự, thưa các ngài-cũng tốt, nếu nhắc lại luôn ở đây-, không có gì khác hơn là nằm ở tính mạch lạc của tư duy, đó là điều không đòi hỏi phải có bất cứ điều kiện nào có trước, từng bước từng bước tất cả sẽ được khai triển từ chính nó, song cũng chính vì vậy, thính giả một khi chú ý lắng nghe sẽ không cần phải căng thẳng trí óc mới có thể hiểu được.

Sự mạch lạc trong tư duy chính vì thế không đòi hỏi ở người nghe nó bất kỳ một điều kiện đặc biệt nào. Mà ngược lại, bởi vì nó, như đã lưu ý, chứa đựng không có gì khác hơn là sự vô điều kiện của tư duy, sự mạch lạc này triển khai tất cả từ chính nó, và như vậy nó không chấp nhận bất kỳ một điều kiện có trước nào. Cái nó chấp nhận và đòi hỏi không có gì khác hơn là người nghe, phải không có bất kỳ điều kiện có trước thuộc dạng nào, không có định kiến cố định nào, mà phải nghiên cứu mới đối tượng từ đầu, cho dù họ đã nhiều lần suy nghĩ hoặc nói về nó, có nghĩa là, họ hoàn toàn không hề biết chút gì một cách chính xác về nó, và cũng có nghĩa là ít nhất trong thời gian tiến hành tìm hiểu vấn đề phải từ bỏ tất cả những gì cho đến nay được hiểu về đối tượng này.

Và như vậy tôi sẽ bắt đầu bài tham luận của mình với câu hỏi: Hiến pháp là gì? bản chất của một bản Hiến pháp bao gồm những gì?

Tất cả mọi người, thưa các ngài, hiện nay ai cũng nói đến Hiến pháp từ sáng tới tối. Trên tất cả các mặt báo, trong mọi thành phần xã hội, ở tất cả các quán xá người ta liên tục nói về Hiến pháp.

Thế nhưng, nếu tôi đặt vấn đề này ra một cách nghiêm túc: bản chất của một bản hiến pháp là gì, khái niệm Hiến pháp là gì, có lẽ tôi sợ rằng, tất cả những kẻ đang bàn luận về Hiến pháp sẽ không có khả năng để đưa ra một câu trả lời cho thỏa mãn.

Nhiều người sẽ cảm thấy đang cố gắng thử tìm cách trả lời câu hỏi đó bằng việc lục lại bộ luật nước Phổ năm 1850 và dẫn ra đây bản Hiến pháp của nước Phổ.

Nhưng các ngài sẽ nhanh chóng nhận ra, đó không phải là câu trả lời cho câu hỏi của tôi. Bởi vì những gì trong đó chỉ là cái nội dung đặc biệt của một bản Hiến pháp nhất định mà cụ thể ở đây là Hiến pháp nước Phổ, và như vậy hoàn toàn không đủ khả năng để trả lời cho câu hỏi: bản chất của một bản Hiến pháp, hay khái niệm Hiến pháp thực chất là gì.

Nếu tôi đặt câu hỏi này cho một luật gia, câu trả lời của anh ta có lẽ là như thế này: "Hiến pháp là một bản khế ước giữa nhà vua và dân chúng, nó xác định những nguyên tắc nền tảng của lập pháp và của chính phủ trong một đất nước" hoặc có thể anh ta sẽ khái quát hóa hơn nữa, vì ngoài ra còn có những hiến pháp của chính thể cộng hòa, và nói: "Hiến pháp là bộ luật nền tảng được tuyên cáo trong toàn quốc, nó xác định việc tổ chức của luật pháp công trong quốc gia đó."

Nhưng tất cả những định nghĩa mang tính luật pháp hình thức kiểu này hoặc tương tự như vậy cũng giống như câu trả lời trên đó, chúng đều cách xa câu trả lời chính xác cho câu hỏi của tôi. Bởi vì tất cả những câu trả lời này đều chỉ chứa đựng sự diễn tả mang tính bên ngoài về việc một bản Hiến pháp đã được hình thành nên như thế nào, và một bản Hiến pháp làm những gì, nhưng không chứa đựng cái nhiệm vụ: Hiến pháp là gì. Nó đưa ra những tiêu chuẩn, những đặc trưng để người ta từ đó nhận ra được một bản Hiến pháp về hình thức và về tính pháp lý. Nhưng nó hoàn toàn không nói cho chúng ta biết về khái niệm Hiến pháp và về bản chất của một bản Hiến pháp là gì .

Vì vậy nó đặt chúng ta vào trạng thái hoàn toàn mù mờ, không biết liệu và khi nào một bản Hiến pháp nào đó là tốt hoặc tồi, có khả năng hay không có khả năng, sẽ bền vững hoặc không bền vững. Bởi vì tất cả những cái đó chỉ có thể nảy sinh trước hết từ khái niệm Hiến pháp. Chí ít đầu tiên người ta phải hiểu được bản chất của một bản Hiến pháp, để có thể biết, nó có phù hợp với cái bản chất đó hay không và nó phải thể hiện ra như thế nào. Tuy nhiên về điều này như đã thấy, bất kỳ kiểu định nghĩa mang tính luật pháp, tính hình thức, được viết một cách giống nhau trên bất kỳ một tờ giấy nào, được một dân tộc hoặc một dân tộc và nhà vua của họ cùng đặt bút ký và tuyên bố là Hiến pháp bất kể nội dung của tờ giấy đó được tạo nên ra sao, đều đưa chúng ta vào một trạng thái mù mờ. Sự sáng tỏ chỉ có được khi khái niệm Hiến pháp, các ngài sẽ thấy rõ điều này khi mà chúng ta đã nắm bắt được khái niệm đó-là mạch nguồn của tất cả nghệ thuật hiến pháp và của minh triết hiến pháp, là những điều sau đó sẽ phát triển vừa dễ dàng và cũng tự nhiên từ cái khái niệm đó.

Tôi nhắc lại câu hỏi lần nữa: một bản Hiến pháp là gì, cái gì là bản chất, là khái niệm Hiến pháp?

Bởi vì chúng ta chưa biết-cho nên trước hết chúng ta phải cùng nhau tìm kiếm, thưa các ngài-và như vậy chúng ta nên vận dụng một phương pháp, mà chúng ta luôn cảm thấy thoải mái khi vận dụng nó, nếu một khi cần phải đạt đến một khái niệm rõ ràng về một sự việc.

Phương pháp này thật ra cũng đơn giản thôi, thưa các ngài. Nội dung của nó là, với một sự việc mà ta đang tìm kiếm khái niệm về nó, người ta sẽ tìm cách so sánh nó với một sự việc tương tự, và tìm cách suy nghĩ về sự khác biệt một cách mạch lạc, sâu sắc để cuối cùng có thể phân biệt được giữa chúng với nhau.

Một khi sử dụng phương pháp này, tôi sẽ hỏi: điểm khác biệt giữa Hiến pháp và luật cơ bản là như thế nào?

Cả hai, Hiến pháp và Luật, rõ ràng đều có một bản chất liên quan với nhau. Một Hiến pháp cần phải có hiệu lực pháp luật; cho nên nó cũng phải là luật. Tuy nhiên nó không chỉ là luật, nó còn phải trên cả luật. Và như vậy có một sự khác biệt ở đây. Việc ở đây có một sự khác biệt như vậy, việc một bản hiến pháp cần phải không chỉ là luật, mà còn hơn thế nữa, có thể chứng minh được qua hàng trăm thực tế.

Vậy nên các các ngài đừng có khó chịu, các ngài thân mến, nếu như các ngài thấy xuất hiện những điều luật mới. Ngược lại, các ngài biết đấy, việc vài năm lại có ít nhiều những điều luật mới được ban hành đó là điều cần thiết. Tuy nhiên không có điều luật mới nào có thể được ban hành mà không có sự thay đổi tương quan luật pháp đang hiện hành cho đến lúc đó. Bởi vì giả như điều luật mới không đem lại thay đổi gì trong trạng thái luật pháp vẫn tồn tại đến thời điểm đó, thì điều luật đó hoàn toàn trở nên thừa và sẽ không được ban hành.

Đối với việc sửa đổi luật pháp các ngài không sẽ cảm thấy khó chịu, vì nhìn chung các ngài coi đó là những nhiệm vụ định kỳ của các bộ phận trong chính phủ. Thế nhưng chừng nào người ta chọc ngoáy các ngài ở chỗ Hiến pháp, khi đó các ngài sẽ bực bội và la lên: Người ta đụng chạm đến Hiến pháp của chúng ta. Do đâu mà có sự khác biệt đó? Sự khác biệt đúng là không thể phủ nhận được ở chỗ, trong một số Hiến pháp rõ ràng được quy định: Hiến pháp cần phải không thể thay đổi được; ở chỗ khác lại ghi, chỉ thay đổi khi có được 2/3 số đại biểu theo luật đồng ý, ở chỗ khác nữa lại ghi: những chủ thể lập pháp hoàn toàn không thể, ngay cả khi trong liên minh với các quyền lực chính phủ khác, tiến hành việc thay đổi Hiến pháp, mà một khi, nếu như nó quyết định việc thay đổi Hiến pháp, lúc đó cần phải có một hội nghị toàn quốc mới, gồm những người do dân lựa chọn, đặc biệt dành cho mục đích này, để quyết định về việc thay đổi Hiến pháp.

Trong tất cả những thực tế trên đây đã thể hiện một điều, rằng theo như tình cảm của toàn bộ dân chúng một bản Hiến pháp còn cần phải là cái gì đó nhiều thiêng liêng hơn, vững chắc hơn, bất biến hơn là một bộ luật thông thường.

Bây giờ tôi lại tiếp tục với câu hỏi của mình: một bản Hiến pháp khác với một văn bản luật ở chỗ nào?

Câu trả lời cho câu hỏi này thường như sau: một bản Hiến pháp không chỉ là một văn bản luật, như những văn bản luật khác, mà nó còn là một văn bản luật nền tảng của một quốc gia. Hoàn toàn có khả năng, thưa các ngài, rằng trong câu trả lời này có thể ẩn chứa những cái đúng trong một cách thức không rõ ràng. Nhưng trong cái cách không rõ ràng này, là cái mà câu trả lời còn có, đã không giúp gì hơn cho tôi. Bời vì nó lại làm nảy sinh câu hỏi tiếp theo: một văn bản luật thông thường khác một văn bản luật nền tảng ở chỗ nào? Như vậy chúng ta lại chẳng tiến xa thêm được bao nhiêu. Chúng ta chỉ có thêm được một cái tên mới, luật nền tảng, nó chẳng giúp gì được cho chúng ta, chừng nào chúng ta lại tiếp tục không hề biết và nói ra được sự khác biệt nào giữa một văn bản luật nền tảng và một văn bản luật thông thường.

Do đó chúng ta hãy thử tìm cách tiếp cận vấn đề theo cách sau: chúng ta sẽ nghiên cứu xem những quan niệm nào có thể được chứa đựng trong cái tên "Luật nền tảng", hay nói một cách khác: một văn bản luật nền tảng phải khác một văn bản luật thông thường như thế nào, nếu như cái thứ nhất phải thực sự xứng đáng với tên tên gọi Luật nền tảng.

Vậy thì một văn bản luật nền tảng cần phải:

1. là một văn bản luật, có chiều sâu hơn một văn bản luật thông thường; điều này thể hiện qua chữ nền tảng; nhưng nó cũng cần:

2. để là một luật nền tảng, chính xác ra nó phải là cái nền để các luật khác xây dựng trên đó, như vậy có nghĩa là luật nền tảng phải tiếp tục có tác động trong những điều luật thông thường khác, nếu nó, như đã nói, cần phải là nền cho các luật này. Như vậy có nghĩa là luật nền tảng phải tiếp tục có hiệu lực trong những văn bản luật thông thường khác.

3. nhưng một sự việc, có một nền tảng, sẽ không còn có thể tùy tiện trở thành lúc thế này lúc thế khác; mà nó phải luôn giữ nguyên như nó vốn là. Việc nó khác đi, không ảnh hưởng gì đến nền tảng của nó. Chỉ có cái không có nền tảng, và cũng bởi vậy mới có thể là điều ngẫu nhiên, lúc như nó vốn là, và cũng có lúc khác đi. Tuy nhiên cái gì có một nền tảng, nó nhất thiết phải như nó vốn là. Ví dụ như các hành tinh có một sự chuyển động nhất định. Chuyển động này hoặc tuân theo một nền tảng quy định cho nó hoăc nó không tuân theo một nền tảng nào. Nếu nó không có nền tảng, thì chuyển động đó mang tính ngẫu nhiên và có thể bất kỳ một lúc nào đó chuyển động sẽ đổi khác. Nhưng nếu nó có một nền tảng, cụ thể, như những nhà khoa học đã nói, là lực hấp dẫn của mặt trời, xác định và điều khiển, làm cho nó không thể nào khác được như nó phải là. Trong quan niệm về nền tảng, như vậy có chứa đựng ý tưởng về một sự tác động tất yếu, về một lực tác động, là cái cùng với sự tất yếu đã làm cho cái lấy nó làm nền tảng trở nên phải như nó phải là.
Như vậy nếu Hiến pháp làm nên luật cơ bản của một quốc gia,-và ở đây bắt đầu lóe lên cho chúng ta tia sáng đầu tiên, thưa các ngài-nó sẽ là một cái gì đó còn cần phải được xác đinh cụ thể hơn hoặc như chúng ta tạm thời tìm ra, đó là một lực tác động với sự tất yếu đã làm cho những điều luật khác và những thiết chế luật pháp khác, là những cái được ban hành trong đất nước này, trở thành như nó hiện là, để sao cho từ giờ trở đi không thể nào có thể ban bố những điều luật khác với chính những điều luật đó trên đất nước này.

Nhưng liệu bây giờ có một cái gì đó trong đất nước này, thưa các ngài,- và với câu hỏi này bây giờ dần dần toàn bộ ánh sáng bắt đầu được chiếu rọi vào đây- liệu có một cái gì đó trong một đất nước, một lực tác động xác định nào đó chẳng hạn, nó có tác động vào tất cả các bộ luật được ban hành trên đất nước này sao cho chúng nhất thiết ở trong một phạm vi nhất định và không trở nên khác đi như chúng phải như thế?

Đương nhiên, thưa các ngài, có một cái gì đó như vậy và cái gì đó này không có gì khác hơn là-những mối tương quan quyền lực trên thực tế, chúng đang tồn tại trong một xã hội hiện hành.

Những tương quan quyền lực, đang tồn tại trong một xã hội nào đó, là lực đang tác động quyết định tất cả các điều luật và các thể chế luật pháp của xã hội đó để sao cho chúng về cơ bản không thể nào khác được như chúng cần phải là.

Tôi sẽ đưa lướt qua một ví dụ sinh động để làm sáng tỏ hoàn toàn vấn đề. Thí dụ này cụ thể sẽ được tôi đặt ra dưới một hình thức hoàn toàn có thể vô lý. Nhưng ngoại trừ điều, mà sau này có thể sẽ được chỉ ra, rằng cũng chính cái ví dụ đó trong một hình thức khác tất nhiên sẽ hoàn toàn có thể có lý, và như vậy sẽ hoàn toàn không quan trọng, liệu cái ví dụ đó có thể xảy ra hay không, mà điều quan trọng chỉ là việc chúng ta muốn học được điều gì từ đó, là bản chất của sự việc mà ta muốn bóc trần, một khi nó xuất hiện.

Cái ngài đều biết, thưa các ngài, rằng ở nước Phổ chỉ có những gì được công bố qua bộ luật mới có hiệu lực luật pháp. Bộ luật đã được in tại nhà in Decker'sches Oberhofbucherein. Bản thân nguyên bản của các điều luật được lưu giữ trong kho lưu trữ nào đó của nhà nước, còn trong các lưu trữ khác, trong các thư viện và trong các tạp chí là những bản in của các bộ luật.

Bây giờ nếu các ngài tưởng tượng trường hợp có một đám cháy lớn xảy ra, chẳng hạn giống như đám cháy ở Hamburg, và lúc này tất cả những lưu trữ quốc gia đó, những thư viện, những tạp chí và ngay cả nhà in Decker'sche Oberhofbuchdruckerein đều bị cháy trụi và tai nạn này kỳ lạ thay cũng xảy ra cùng lúc ở tất cả các thành phố của vương quốc, ngoài ra những thư viện tư nhân trong đó có chứa những phiên bản của bộ luật cũng không thoát khỏi hỏa hoạn, có nghĩa là giờ đây trên toàn nước Phổ không còn tồn tại bất cứ một văn bản luật pháp nào ở dạng đã được công chứng.

Lúc này, đất nước, do bởi tất cả văn bản luật pháp đã bị tai họa thủ tiêu và như vậy không có cách nào khác là phải xây dựng lại một bộ luật mới.

Thưa các ngài, bây giờ liệu các ngài có tin, rằng người ta trong trường hợp này sẽ tiến hành công việc một cách tùy tiện, người ta có thể xây dựng những luật mới nào đó một cách tùy tiện, như một ai đó thích? Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu.

Bây giờ tôi đặt ra trường hợp, các ngài sẽ nói: Các bộ luật đã bị mất đi, giờ đây chúng ta làm lại bộ luật mới và trong bộ luật mới này chúng ta không muốn giành cho triều đình một vị trí như trước đây, hoặc là mạnh hơn nữa: chúng ta không muốn giành cho nó bất kỳ vị trí nào.

Lúc này nhà vua chỉ cần nói một cách đơn giản: Bộ luật cho dù đã bị mất đi; nhưng trên thực tế quân đội vẫn tuân theo ta, tiến lên theo lệnh của ta, trên thực tế theo lệnh ta các chỉ huy các kho vũ khí và trại lính sẽ kéo pháo ra, dàn trận trên đường phố và với quyền lực thực sự đó ta không để cho các ngươi sắp đặt cho ta một vị trí nào khác ngoài vị trí mà ta muốn.

Các ngài thấy không, thưa các ngài, một ông vua có quân đội trong tay cùng với súng ống, - đó chính là một mảng của Hiến pháp!

Hoặc tôi đặt ra một trường hợp khác, các ngài nói: Chúng tôi gồm 18 triệu dân nước Phổ. Trong số 18 triệu người này chỉ có một con số nhỏ không đáng kể các đại địa chủ thuộc dòng dõi quý tộc. Chúng tôi không thể chấp nhận được, tại sao một số nhỏ bé không đáng kể những đại địa chủ này lại có thể có mức độ ảnh hưởng lớn như ảnh hưởng của toàn bộ 18 triệu con người cộng lại, qua cách họ tạo nên một viện qúy tộc gồm toàn người của họ, viện này có quyền thay thế hoặc loại bỏ các quyết định của hạ viện gồm các nghị viên được toàn thể nhân dân bầu lên, khi mà chúng vẫn còn có tác dụng. Tôi đặt ra trường hợp, các ngài thảo luận với nhau như vậy và nói: Chúng ta tất cả đều là "quý tộc" và không muốn có bất kỳ một viện quý tộc đặc biệt nào nữa.

Bây giờ, thưa các ngài, các đại địa chủ quý tộc dĩ nhiên không thể sai nông dân tấn công các ngài! Mà hoàn toàn ngược lại, rất có thể chính họ lại phải bối rối tìm cách thoát khỏi sự tấn công của các nông nô của mình trước.

Thế nhưng các đại địa chủ quý tộc luôn có ảnh hưởng rất lớn đến triều đình và nhà vua, và bằng ảnh hưởng này họ có thể điều động quân đội và vũ khí phục vụ cho mình y như là những phương tiện quyền lực đó đang nằm trực tiếp dưới sự điều khiển của họ.

Như vậy các ngài thấy, thưa các ngài, một quý tộc, có ảnh hưởng đến triều đình và nhà vua, -đó cũng là một mảng của Hiến pháp.

Hoặc là tôi đặt ra một trường hợp ngược lại, nhà vua và giới quý tộc thỏa thuận riêng với nhau, tái thiết lập luật cơ bản về phường nghề thời trung cổ, và không chỉ đối với nghề thủ công nhỏ, như người ta cách đây ít năm phần nào thực sự đã thử làm điều đó, mà sẽ làm theo cách như nó đã có ở thời trung cổ, cụ thể là cho toàn bộ nền sản xuất có thiết bị máy móc. Thưa các ngài, chắc các ngài cũng đã biết, rằng tư bản lớn không thể nào hoạt động sản xuất trong hệ thống phường nghề kiểu thời trung cổ, rằng các đại xí nghiệp và các cơ sở công nghiệp, nền sản xuất bằng máy móc không thể nào phát triển được trong một hệ thống phường nghề thời trung cổ. Bởi vì, ví dụ như, trong hệ thống đó tồn tại khắp mọi nơi những giới hạn mang tính luật pháp, khoanh vùng những nhánh công việc khác nhau và cả những nhánh có quan hệ gần gũi với nhau, và không có một doanh nhân nào được phép kết nối hai nhánh giống nhau lại với nhau. Người thợ sơn không được phép trám các lỗ trống, giữa người thợ rèn kim và thợ nguội ngày đó là vô số những thủ tục để có thể vượt qua được giới hạn của hai nghề nghiệp, người thợ in vải không được được phép là tổn hại đến người chế tạo màu. Dưới hệ thống phường nghề đối với các loại số lượng cũng được quy định một cách nghiêm ngặt về mặt luật pháp như vậy, một doanh nhân chỉ được phép sản xuất với một số lượng nhân công có giới hạn, cụ thể là ở mỗi một địa phương trong mỗi một nghành nghề, mỗi một thợ cả chỉ được phép sử dụng cùng một số nhân công nhất định như luật định.

Các ngài thấy đấy, chỉ từ hai lý do đó nền sản xuất lớn, nền sản xuất với thiết bị máy móc và với một hệ thống máy móc trong điều kiện phường nghề không thể nào phát triển lấy một ngày. Bởi vì điều đầu tiên nền sản xuất lớn này đòi hỏi là không khí thở của nó, đó là sự kết nối các nhánh công việc hoàn toàn khác nhau trong sự điều khiển của cùng một tư bản lớn; thứ hai, đó là nền sản xuất số lượng lớn và sự tự do cạnh tranh, có nghĩa là việc sử dụng một cách tùy ý không hạn chế số lượng người lao động.

Nếu như bây giờ người ta mặc dù vậy vẫn muốn tái thiết lập luật phường nghề, cái gì sẽ xảy ra?

Các ông Borsig, Egels v.v..., các chủ nhà máy lớn nhuộm lớn, các chủ nhà máy sợi lớn v.v... sẽ đóng cửa nhà máy và sa thải công nhân, ngay cả các ban điều hành các cung đoạn đường sắt cũng phải làm như vậy, buôn bán và kinh doanh sẽ ngừng trệ, một số lớn các thợ cả nghề thủ công do đó phần thì tự nguyên, phần thì bắt buộc phải sa thải thợ, lúc đó đám đông dân chúng vô cùng lớn này sẽ đổ ra đường gào lên đòi bánh mỳ và việc làm, đằng sau lưng họ là những nhà tư sản lớn đứng ra cổ vũ bằng ảnh hưởng của mình, khích động qua uy tín của mình và đứng ra tạm ứng tiền và cứ như thế sẽ đến lúc xảy ra một cuộc giao chiến, trong đó phần thắng không thể có đối với quân đội.

Thưa các ngài, như vậy các ngài thấy, các ông Borsig và Egels, các nhà đại công nghiệp nói chung, họ là một mảng của Hiến pháp.

Hay là tôi đặt ra môt trường hợp khác, chính phủ muốn vận dụng một biện pháp nào đó, mà biện pháp này cực kỳ làm tổn hại đến quyền lợi của các nhà tài phiệt lớn. Ví dụ, chính phủ muốn nói, nhà băng hoàng gia cần phải không được như hiện nay, nghĩa là không nên cung cấp tín dụng rẻ cho các tài phiệt và các tư bản công nghiệp lớn nữa, đó là những người dù sao cũng đã được cung một lượng tiền và tín dụng nhiều hơn tất cả, và họ là những người thời nay chỉ cần vớichữ ký là đã có thể thanh toán với nhà băng, cho nên nhà băng chính ra phải là nơi cung cấp tín dụng cho tầng lớp dưới và tầng lớp trung lưu-và người ta tiến hành tổ chức lại nhà băng hoàng gia để thực hiện mục tiêu đó-liệu có thể làm được như vậy, thưa các ngài?

Vâng, thưa các ngài, dĩ nhiên trường hợp này không thể kéo theo một cuộc nổi loạn. Nhưng đối với chính phủ hiện nay cũng không làm được.

Bởi vì thỉnh thoảng, thưa các ngài, chính phủ cũng ở trong tình trạng, cần có phương tiện tài chính như vậy, cần có một lượng lớn phương tiện tài chính như vậy, mà nó không dám gom nhặt qua hình thức thuế khóa. Trong trường hợp đó nó tìm lối thoát bằng cách xài trước một món tiền của tương lai, có nghĩa là, vay nợ và phát hành tín phiếu. Để làm được điều này nó phải cần đến các chủ nhà băng. Mặc dù về lâu về dài phần lớn các tín phiếu lại trở về trong tay toàn bộ giai cấp hữu sản của đất nước và chủ nợ nhỏ lẻ. Nhưng tuy nhiên điều này cần có thời gian, và thường cần rất nhiều thời gian. Thế nhưng chính phủ lại cần có tiền và ngay lập tức, hoặc trong một thời hạn rất ngắn, vì vậy nó cần đến những nhân vật trung gian môi giới, trước mắt cung cấp cho nó toàn bộ số tiền cần thiết và tự chịu phần rủi ro đối với những giấy nợ mà chúng nhận được từ chính phủ, với thời gian những giấy đó sẽ được bán cho công chúng với lãi suất có từ sự tăng giá một cách giả tạo khi bán ra trên thị trường chứng khoán. Những nhân vật trung gian đó là những chủ nhà băng, và bởi vậy ngày nay chính phủ không được phép làm phật lòng họ.

Như vậy các ngài đã thấy, thưa các ngài, những chủ nhà băng như Mendelssohn, Schickler, hoặc thì trường chứng khoán nói chung, đó cũng là một mảng của Hiến pháp.

Hoặc tôi đặt ra trường hợp, ví dụ chính phủ muốn ban hành một điều luật hình sự, giống như ở Trung quốc, nghĩa là nếu một kẻ nào đó phạm tội ăn trộm thì cha của nó phải chịu hình phạt. Điều này sẽ khó có thể xảy ra, bởi vì học thức chung, nhận thức chung sẽ phản đối kịch liệt. Tất cả các công chức nhà nước, ngay cả các hội kín cũng vỗ trán, ngay cả các thành viên của viện quý tộc cũng sẽ lên tiến chống lại, và như vậy các ngài đã thấy, thưa các ngài, trong một giới hạn nhất định nhận thức chung, trình độ học thức chung cũng vậy, chúng là một mảng của Hiến pháp.

Hoặc tôi đặt ra trường hợp, chính phủ quyết định tìm cách thỏa mãn giới quý tộc, giới nhà băng, các nhà công nghiệp lớn và các nhà tư bản nói chung, nhưng ngược lại lại tước quyền tự do về chính trị của những công dân nhỏ bé và của người lao động. Liệu như vậy có được, thưa các ngài? Ui dĩ nhiên là phải được, thưa các ngài, điều đó xảy ra trong cả một thời gian dài; vâng điều đó đã tự cho thấy, hoàn toàn được, và chúng ta tiếp sau đây sẽ còn có cơ hội để xem xét lại điều này.

Thế nhưng bây giờ tôi lại đặt ra một trường hợp như thế này: người ta không chỉ muốn tước quyền tự do về chính trị của những công dân nhỏ bé và của những người lao động mà còn cả quyền tự do cá nhân nữa, có nghĩa là, người ta muốn tuyên bố, rằng họ về mặt cá nhân không còn được tự do, họ là nông nô và bị phụ thuộc, như họ thực sự là như vậy trong những thế kỷ xa xưa của thời trung cổ tại nhiều quốc gia. Liệu có thể được, thưa các ngài? Không, và nếu cả như nhà vua, giới quý tộc và toàn bộ tầng lớp tư sản thống nhất với nhau về điều đó-cũng không thể nào được! Bởi vì trong trường hợp này các ngài sẽ nói: chúng tôi thà chịu chết, chứ không thể chấp nhận điều đó.

Những người lao động sẽ đóng cửa nhà máy không cần có Borsig và Egels, họ sẽ xông ra đường, toàn bộ tầng lớp dưới sẽ ủng hộ họ, và do vì sự đoàn kết kháng cự của họ rất khó bị bẻ gãy, và như vậy các ngài thấy, thưa các ngài, rằng trong những trường hợp cực đoan nhất định bản thân các ngài tất cả là một mảng của Hiến pháp.

Như vậy bây giờ chúng ta đã nhận thấy, thưa các ngài, Hiến pháp của một quốc gia là cái gì, đó là: những mối tương quan quyền lực thực tế tồn tại trong một đất nước.

Bây giờ điều đó có liên quan đến mức nào với cái mà người ta thông thường gọi là Hiến pháp, với Hiến pháp mang tính pháp lý? Vâng, thưa các ngài, các ngài sẽ lập tức tự nhận ra, nó có liên quan như thế nào với điều đó!

Các mối tương quan quyền lực thực tế này người ta sẽ viết lên một tờ giấy, diễn đạt chúng bằng văn bản, và nếu như giờ đây một khi chúng được viết ra, như vậy chúng sẽ không chỉ là những mối tương quan về quyền lực nữa, mà bây giờ chúng đã trở thành luật, thành những thiết chế pháp lý, và những ai chống lại sẽ bị trừng phạt!

Cũng như vậy, thưa các ngài, bây giờ các ngài sẽ nhận ra, người ta đã thực hiện như thế nào trong việc diễn đạt bằng văn bản này đối với các tương quan quyền lực thực tế, mà nhờ đó nó trở nên mang tính pháp lý.

Ở đây người ta sẽ không viết vào đó: ông Borsig là một mảng của Hiến pháp, ông Mendelssohn là một mảng của Hiến pháp v.v..., mà người ta sẽ diễn đạt điều đó theo một cách, một kiểu tinh vi hơn nhiều.

Ví dụ như nếu người ta muốn quyết định: số ít những chủ công nghiệp lớn và các đại tư bản trong vương quốc được hưởng nhiều quyền lực hơn tất cả các tầng lớp trung lưu, công nhân và nông dân cộng lại, lúc này người ta sẽ tránh không thể hiện bằng văn bản dưới hình thức lộ liễu không che đậy như thế. Thay vì vậy người ta sẽ ban bố một đạo luật, ví dụ như đạo luật vô lý phân chia ba tầng lớp cử tri năm 1849, theo điều luật đó người ta đã chia dân chúng thành ba tầng lớp cử tri dựa trên mức độ tiền thuế mà cử tri đó phải nộp, và mức độ này dĩ nhiên phụ thuộc vào giá trị tài sản sở hữu của người đó.

Thưa các ngài, theo danh sách chính thức của nhà đương quyền công bố vào năm 1849 sau khi điều luật này được ban hành, khi đó trên toàn bộ nước Phổ có 3255600 cử tri, số này được chia làm ba tầng lớp như sau: thuộc tầng lớp thứ nhất có 153808 cử tri trên toàn nước Phổ, tầng lớp thứ hai gồm 409945 cử tri, tầng lớp thứ ba gồm 2691950 cử tri.

Tôi nhắc lại cho các ngài biết, thưa các ngài, rằng các con số này đều lấy ra từ tài liệu chính thức được công bố.

Chúng ta nhận thấy ở đây, 153808 người rất giàu được hưởng quyền lực chính trị tại nước Phổ ngang bằng với 2691950 người thuộc tầng lớp trung lưu, nông dân và công nhân cộng lại, hơn nữa con số 153808 những người rất giàu này và 409945 người tương đối giàu của tầng lớp thứ hai hợp lại có quyền lực chính trị nhiều hơn là của toàn bộ phần dân chúng còn lại, vâng 153808 người giàu có nhất và cùng với chỉ cần một nửa của số 409945 cử tri thuộc tầng lớp thứ hai hợp lại đã có nhiều quyền lực chính trị hơn là nửa còn lại của những người tương đối giàu có cộng với số 2691950 cử tri thuộc tầng lớp thứ 3.

Từ đó các ngài thấy đấy, thưa các ngài, người ta bằng cách như vậy đã đạt được kết quả y hệt như, nếu người ta viết ra những lời lộ liễu trong hiến pháp, chẳng hạn: một người giàu có cần được hưởng quyền lực chính trị gấp 17 lần những công dân khác hoặc ngang bằng với 17 người khác.

Trước khi điều luật "chia ba tầng lớp" này được ban hành, đã có một luât phổ thông đầu phiếu được xác định về mặt pháp lý qua điều luật ban hành vào ngày 08.04.1848, trong đó quy định mỗi một công dân bất kể giàu nghèo đều được hưởng luật bầu cử như nhau và như vậy có nghĩa là có một quyền lực chính trị như nhau trong việc tham gia xác định mục tiêu và ý chí của nhà nước. Như vậy các ngài thấy đấy, thưa các ngài, bằng chứng này đã chứng minh cho những gì tôi nói trước đây là có lý, rằng trên thực tế đáng tiếc là việc tước bỏ quyền tự do chinh trị của các ngài, những người thuộc tầng lớp trung lưu nhỏ bé và những công nhân, nông dân, đã xảy ra rất dễ dàng hơn là, nếu người ta chỉ tước bỏ một cách không trực tiếp và cực đoan của cải cá nhân, thân thể và tài sản của các ngài. Bởi vì các ngài khi đó đã để cho người ta tước đoạt quyền bầu cử một cách dễ dàng và cho đến nay tôi chưa hề thấy có một sự suy tính nào nhằm giành lại quyền này.

Tiếp tục, nếu như người ta muốn quy định trong Hiến pháp: một số nhỏ các đại địa chủ quý tộc cần được giành riêng quyền lực nhiều như những người giàu có, như những thành phần sung túc và những kẻ vô sản, nhiều quyền lực như của số cử tri bao gồm tất cả ba tầng lớp, như toàn bộ dân chúng cộng lại, khi đó người ta sẽ tránh viết những câu thô thiển, bởi vì các ngài chắc chắn đều nhận thấy, thưa các ngài, tôi nói lại lần cuối, tất cả những cái rõ ràng đều thô thiển-vì vậy người ta sẽ viết như sau trong Hiến pháp: cần phải lập nên một viện quý tộc với một số thành phần không đáng kể từ những đại diện của những địa chủ lâu đời và ổn định, sự chấp thuận của họ là cần thiết đối với những quyết định của hạ viện là đại diện cho toàn dân tộc và như vậy một nhúm những địa chủ lâu đời đã được trao một quyền lực chính trị ngang với ý chí chung của cả dân tộc và của tất cả những tầng lớp trong đó.

Và khi người ta tiếp tục muốn, rằng riêng nhà vua cần phải có quyền lực chính trị cũng nhiều bằng và còn nhiều hơn rất nhiều so với tất cả ba tầng lớp cử tri, nhiều hơn so với toàn bộ dân chúng và các địa quý tộc cộng lại, lúc này người ta sẽ làm như sau:

Người ta điền vào điều 47 của Hiến pháp: "Nhà vua nắm giữ mọi chức vụ trong quân đội", và trong điều 108 của Hiến pháp người ta sẽ ghi: "Không tồn tại việc tuyên thệ của quân đội đối với Hiến pháp." Và người ta sau đó xây dựng một lý thuyết cho nó, là cái trên thực tế lý thuyết này đóng vai trò nền tảng về mặt nguyên tắc trong nó, cụ thể lý thuyết nói, rằng nhà vua có một vị trí hoàn toàn khác đối với quân đội không giống như đối với các cơ quan nhà nước khác, ông ta trong mối quan hệ với quân đội không chỉ là vua, mà còn là một cái gì đó hoàn toàn khác, hoàn toàn đặc biệt, bí mật và không thể biết được, đối với điều này người ta đã sáng tạo ra chữ "Tổng tư lệnh", và, rằng do vậy quốc hội và nhân dân hoàn toàn không cần phải quan tâm đến quân đội, không can thiệp vào công việc và tổ chức của nó,mà chỉ cần chấp thuận ngân sách tài chính cho nó. Và người ta phải, như đã nói, phải thừa nhận-sự thật là trên hết-, rằng lý thuyết đương nhiên là một nền tảng nào đó cho điều 108 của Hiến pháp. Bởi vì một khi Hiến pháp quy định, việc quân đội và bản thân nhà vua không giống như tất cả các quan chức nhà nước khác là phải tuyên thệ đối với Hiến pháp, như vậy đương nhiên về mặt nguyên tắc điều đó đã tuyên bố, rằng quân đội đứng ngoài Hiến pháp và chẳng có gì liên quan đến nó, rằng quân đội chỉ và hoàn toàn chỉ có một mối liên hệ đối với cá nhân nhà vua, không có liên quan gì đến quốc gia.

Bằng cách đó đã đạt được điều nhà vua nắm giữ mọi vị trí trong quân đội và quân đội có một vị trí đặc biệt đối với nhà vua, cũng bằng cách đó đã đạt được việc quyền lực chính trị của một mình nhà vua không chỉ có nhiều bằng, mà còn gấp chục lần quyền lực của toàn bộ đất nước cộng lại, và thậm chí ngay cả khi, nếu quả thực quyền lực thực sự của đất nước mười, hai mươi và năm mươi lần lớn hơn là của quân đội. Nguyên do của sự dường như có vẻ mâu thuẫn này rất chi là đơn giản.


Quân đội, phương tiện quyền lực của nhà vua, là cái có tổ chức, có thể huy động bất kỳ lúc nào, có kỷ luật rất tốt và sẵn sàng hành động trong chớp nhoáng; quyền lực nằm trong nhân dân ngược lại, thưa các ngài, cho dù nó quả thực đúng là một quyền lực lớn vô tận, nhưng đó là quyền lực không có tổ chức; ý chí của nhân dân và đặc biệt mức độ cương quyết,để sẵn sàng thực hiện ý chí đó hoặc chưa chưa sẵn sàng, trong các các thành viên của nó điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra, không ai biết chính xác, mình có thể tìm thấy được bao nhiêu người sát cánh với mình. Ngoài ra nhân dân còn thiếu các công cụ của một quyền lực có tổ chức, thiếu những nền tảng Hiến pháp quan trọng, mà chúng ta đã từng đề cập tới: đó là đại bác. Cho dù súng ống có thể mua được từ tiền của của công dân; cho dù chúng cũng chỉ được làm ra nhờ bởi khoa học, chúng được xã hội phát triển, được vật lý và kỹ thuật chế tạo nên và hoàn thiện. Chỉ riêng sự hiện diện của những súng ống này tự bản thân nó đã là bằng chứng thể hiện quyền lực của xã hội thị dân đã phát triển đến mức độ nào, tiến bộ khoa học, kỹ nghệ, các ngành công nghiệp và sản xuất đủ các kiểu đã phát triển ra sao. Nhưng ở đây nó cũng lại đúng cho câu thơ của Virgil: sic vos non vobis! Bạn tạo ra nó, nhưng không phải cho bạn! Bởi vì súng ống được chế tạo ra luôn chỉ giành cho quyền lực có tổ chức, vì vậy đất nước biết, rằng nó sẽ chỉ tìm thấy những đứa con và nhân chứng cho quyền lực của mình trong một cuộc xung đột ở phía bên kia chiến tuyến. Những lý do này là điều tạo nên căn nguyên cho việc một quyền lực nhỏ nhưng có tổ chức trong suốt một thời gian dài thường có thể là quyền lực chiếm ưu thế so với ngay cả những quyền lực lớn hơn nhiều nhưng không có tổ chức chẳng hạn như quyền lực của nhân dân, cho đến một lúc nào đó, trong việc tiếp tục quản lý và điều hành các vấn đề quốc gia theo một chiều hướng chống lại nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, quyền lực của nhân dân sẽ quyết định dùng cái siêu quyền lực nhưng không có tổ chức của mình chống lại cái quyền lực có tổ chức kia.

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2009

Phạm Văn Điệp - Sự nhàm chán trong các cuộc họp của Quốc hội Việt nam

Phạm văn Điệp
Độc giả tự do
Quyền lập pháp để các nhà chức trách phải tuân thủ bị lu mờ và họ biến các Đại biểu quốc hội thành các điều tra viên, hay thành các luật sư, mà Quyền phán xét cuối cùng lại thuộc... Đảng Cộng sản - những người dấu mặt sau hội trường.

Trong vài năm gần đây, Quốc hội Việt Nam qua các kỳ họp có xu hướng chú trọng tới việc chất vấn các thành viên chính phủ về những việc đã xảy ra. Ban đầu, người dân không rõ các vị Đại biểu quốc hội họ làm gì ở Quốc hội thì họ còn chú ý, đôi khi họ thấy các vấn đề của xã hội được đưa ra và họ mừng rỡ theo dõi xem kết quả ra sao. Nhưng nhiều người bây giờ đã thất vọng. Họ hiểu rõ ra là mọi việc chẳng có gì tiến triển cả.

Vậy công việc chất vấn ở Quốc hội là gì mà nó đã trở nên nhanh nhàm quá vậy?

Thông thường lâu nay có 2 loại đề tài “chất vấn” chủ yếu. Đó là chất vấn công việc "đã xảy ra" hoặc chất vấn liên quan đến công việc "của tương lai". Đáng lý ra, Quốc hội Việt nam nên chú tâm trong vai trò và chức năng lập pháp của mình, tổ chức các cuộc họp để trình bày, thảo luận, chất vấn, phản biện để xây dựng các văn bản luật, các quyết định và chương trình lớn của Quốc gia phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước Việt nam. Chất vấn chỉ là 1 phần trong nhiều họat động khác của Quốc hội. Chất vấn để sáng tỏ vấn đề nhằm xây dựng văn bản luật, các quyết định lớn của Quốc gia, chứ không phải chất vấn chủ yếu để tìm trách nhiệm như lâu nay.

Theo Hiến pháp Việt nam thì tại các kỳ họp của quốc hội, Đại biểu quốc hội có quyền chất vấn và người bị chất vấn phải trả lời ngay hoặc muộn hơn nếu cần phải điều tra thêm. Nhiều người rất hồ hởi khi những vấn đề mình đang quan tâm, đã đang hoặc sẽ xảy ra được chất vấn ở Quốc hội và họ cảm thấy như chính mình đang được chất vấn những nhà chức trách. Sau khi chất vấn, họ chờ đợi và hy vọng những giải trình hợp lý, nhưng họ đâu có biết, cơ chế chính trị hiện tại đã không thể làm họ thỏa mãn. Kiểu sinh hoạt nửa vời như đã hạ thấp vai trò của cơ quan lập pháp và vai trò giám sát của cơ quan này. Quyền lập pháp để các nhà chức trách phải tuân thủ bị lu mờ và họ biến các Đại biểu quốc hội thành các điều tra viên, hay thành các luật sư, mà Quyền phán xét cuối cùng lại thuộc... Đảng Cộng sản - những người dấu mặt sau hội trường.

Nếu chịu khó đặt câu hỏi: Chất vấn về công việc đã xảy ra để làm gì? Có lẽ mọi người chỉ thấy có một kết quả là Chất vấn để hiểu rõ thêm sự việc để tán đồng hoặc đòi hỏi trách nhiệm với nhà chức trách, các Bộ thi hành. Đối chiếu với quyền hạn và nhiệm vụ của Quốc hội thì không có liên hệ trực tiếp với tổ chức chất vấn để tán đồng hoặc đòi hỏi trách nhiệm với nhà chức trách, các Bộ thi hành. Quốc hội là cơ quan lập pháp với các quyền giám sát. Khi các cơ quan chức năng trình báo cáo về công việc đã xảy ra thì Quốc hội phải nghiên cứu báo cáo đó có chỗ nào mâu thuẫn với thực tiễn các văn bản pháp luật đã ban hành, những vướng mắc và những hành lang pháp lý nào cần thiết cho sự giải quyết các mâu thuẫn, vướng mắc đang tồn tại ghi trong các báo cáo. Việc chất vấn với mục đích tìm ra sự đúng - sai, tìm ra trách nhiệm của ai đó trong sự việc không thuộc chức năng của cơ quan lập pháp, mà là chức năng của bên cơ quan Tư pháp. Quốc hội với chức năng theo Hiến pháp quy định: xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao để quyết định ban bố các văn bản luật phù hợp. Có nghĩa là nghe báo cáo để xây dựng luật, còn vấn đề khen thưởng, kỷ luật, quy trách nhiệm… thì phải để cho bên Tư pháp thực hiện dựa trên các văn bản Luật do Quốc hội ban hành.

Chính do không có chức năng đó nên tình trạng Quốc hội tổ chức các kỳ họp để chất vấn các công việc đã xảy ra đã không đem lại hiệu quả .Đó chỉ là tình trạng viết bài văn mà không có phần kết luận, vì thực tiễn cũng không ai dám kết luận khi không có chức năng kèm. Giá như thay vào đó là mở các phiên tòa do Tòa án tiến hành xem xét và cho nhân dân theo dõi thì đó mới là phù hợp và là 1 trong các nguyện vọng của dân chúng.

Thật là ngao ngán cho mấy ông Đại biểu quốc hội hăng hái chất vấn nhất lại là những người tỏ ra không thỏa mãn nhất, mà họ không nhìn thấy được vai trò của họ trong 1 cơ chế chính trị như thế này. Các Đại biểu quốc hội có quyền tham gia soạn thảo ra các văn bản luật pháp và Quốc hội chuẩn y để các quan chức làm đúng chức năng, chứ không phải lắc đầu khi thấy các quan chức giải thích công việc của họ, hoặc khi giám sát 1 việc đã xảy ra, xét thấy luật pháp còn có lỗ hổng hoặc khe lách mà tạo ra kết quả tai hại thì Quốc hội họp bàn để bịt lỗ hổng, ngăn khe lách để chấm dứt tai hại, chứ không phải diễn đi - diễn lại tuồng cảnh chui lách cho mọi người xem đi, xem lại như lâu nay.

Chẳng hạn vụ tham nhũng CPI, chạy chức, chạy quyền, các sai phạm trong quản lý, điều hành nhà nước… khi xét thấy với các văn bản luật cũ còn nhiều điều chưa chặt chẽ, cụ thể để nhiều chỗ cho ai muốn diễn như thế nào cũng được thì Quốc hội phải soạn lại cụ thể hơn và hợp lý hơn để cơ quan chức năng triển khai. Đồng thời hướng tới xây dựng cơ quan Tư pháp tòa án độc lập để xét xử dựa theo các văn bản mà Quốc hội đã ban hành. Đến lúc đó thì chắc những người như ông Lê văn Cuông, Dương Trung Quốc, Nguyễn hữu Phước, Nguyễn minh Thuyết, Nguyễn Lân Dũng… khỏi cần phải trực tiếp tra vấn như 1 điều tra viên, rồi bất lực, ngao ngán như hiện nay.

Chính nhiều Đại biểu quốc hội hăng hái không thỏa mãn thì người dân chán là đúng rồi.

21.11.2009
Phạm văn Điệp

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2009

Nghe thuat lanh dao (trich blog Goldmund)

Cách đây ít lâu,tôi có đọc một bài báo của Trung tá Christopher D. Kolenda viết về nghệ thuật lãnh đạo trong quân sự. Bài báo tên là “Ten ways great commanders lead” (tạm dịch Mười phương thức lãnh đạo của các chỉ huy tài ba). Bài viết giới hạn trong lĩnh vực quân sự, nhưng tôi thấy có thể áp dụng những điều ông viết vào nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, đặc biệt nếu bạn đang làm việc trong một công ty hay tổ chức khác. Tôi chép lại những câu yêu thích tại đây. Tôi không cố dịch ra tiếng Việt, mà chỉ diễn giải một số chỗ để những bạn không sử dụng tiếng Anh có thể tiện theo dõi.

• Decisions at platoon headquarters might be great for the platoon but no so great for 3rd Squad. The necessity for policies and decisions at one level might not be apparent at another level . Trong một tổ chức, người ta thường thấy có những quyết định được đưa từ trên xuống và áp dụng cho toàn bộ tổ chức. Quyết định đó có thể phù hợp đối với tổ chức, nhưng chưa chắc đã phù hợp cho một bộ phận của tổ chức. Người lãnh đạo do đó cần nhìn thấy sự khác biệt đó và cân nhắc hoặc áp dụng chế độ riêng cho bộ phận để bộ phận đó hoạt động hiệu quả hơn, hoặc vẫn tiếp tục áp dụng một chế độ chung cho toàn bộ tổ chức trong trường hợp có lợi hơn cho tổ chức.

• Fighting everything, like attempting to be strong everywhere tactically, undermines effectiveness. The focus should be on the important battles. Người lãnh đạo phải biết tập trung vào những việc quan trọng nếu muốn thành công. Không thể chia sức cho mọi thứ. Trong cuộc sống cũng thế, bạn nên biết đâu là ưu tiên của mình và tập trung sức lực cho những ưu tiên đó. Cái gì cũng xông vào làm thì có thể dẫn đến hậu quả không cái nào ra cái nào cả, mà bạn thì chết sớm!

• Knowing what to do is knowing the letter of the law; knowing why you do it is knowing its spirit. Phải làm cho nhân viên hiểu được tại sao họ cần phải làm một việc gì đó, chứ không chỉ biết phải làm gì.

• Managers get paid to make decisions, but leaders get paid to make decisions and set the example in implementing them. Người lãnh đạo không chỉ ra quyết định, mà còn phải làm gương trong khi thực hiện những quyết định đó.

• Failure is not an option on the battlefield, but it certainly is in training. Khi ra trận/thi đấu/ chính thức làm công việc, thì phải hướng tới chiến thắng; nhưng trong khi tập luyện thất bại là điều cần thiết, vì bạn sẽ học từ những thất bại.

• Instead of asking them to try harder, how about asking them to think differently? Thay vì bảo nhân viên của mình phải nỗ lực hơn, thì hãy bảo họ nghĩ khác đi. Thay vì hùng hục lao đầu vào đá, thì hãy nghĩ xem có cách làm nào khác thông minh hơn không.

• Real leaders promote the idea that disagreement does not equal disrespect. Những ngưỡi lãnh đạo có tài luôn cổ súy cho việc tranh luận. Bất đồng ý kiến không có nghĩa là không tôn trọng.

• The magic of exchanging ideas is getting to know what and how other people think. Trao đổi ý kiến là một phương thức kỳ diệu để biết người khác nghĩ gì, và như thế nào. Nếu bạn không comment ở blog này, thì ai mà biết bạn nghĩ gì?:)

• Demonstrating that you care about people as individuals rather than as personnel or “human resources” is absolutely critical. Hãy chú ý đến từng con người trong đơn vị bạn, chứ không phải chú ý đến nhân sự hay “nguồn nhân lực”. Nói

in reference to:

"Cách đây ít lâu,tôi có đọc một bài báo của Trung tá Christopher D. Kolenda viết về nghệ thuật lãnh đạo trong quân sự. Bài báo tên là “Ten ways great commanders lead” (tạm dịch Mười phương thức lãnh đạo của các chỉ huy tài ba). Bài viết giới hạn trong lĩnh vực quân sự, nhưng tôi thấy có thể áp dụng những điều ông viết vào nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, đặc biệt nếu bạn đang làm việc trong một công ty hay tổ chức khác. Tôi chép lại những câu yêu thích tại đây. Tôi không cố dịch ra tiếng Việt, mà chỉ diễn giải một số chỗ để những bạn không sử dụng tiếng Anh có thể tiện theo dõi. • Decisions at platoon headquarters might be great for the platoon but no so great for 3rd Squad. The necessity for policies and decisions at one level might not be apparent at another level . Trong một tổ chức, người ta thường thấy có những quyết định được đưa từ trên xuống và áp dụng cho toàn bộ tổ chức. Quyết định đó có thể phù hợp đối với tổ chức, nhưng chưa chắc đã phù hợp cho một bộ phận của tổ chức. Người lãnh đạo do đó cần nhìn thấy sự khác biệt đó và cân nhắc hoặc áp dụng chế độ riêng cho bộ phận để bộ phận đó hoạt động hiệu quả hơn, hoặc vẫn tiếp tục áp dụng một chế độ chung cho toàn bộ tổ chức trong trường hợp có lợi hơn cho tổ chức. • Fighting everything, like attempting to be strong everywhere tactically, undermines effectiveness. The focus should be on the important battles. Người lãnh đạo phải biết tập trung vào những việc quan trọng nếu muốn thành công. Không thể chia sức cho mọi thứ. Trong cuộc sống cũng thế, bạn nên biết đâu là ưu tiên của mình và tập trung sức lực cho những ưu tiên đó. Cái gì cũng xông vào làm thì có thể dẫn đến hậu quả không cái nào ra cái nào cả, mà bạn thì chết sớm! • Knowing what to do is knowing the letter of the law; knowing why you do it is knowing its spirit. Phải làm cho nhân viên hiểu được tại sao họ cần phải làm một việc gì đó, chứ không chỉ biết phải làm gì. • Managers get paid to make decisions, but leaders get paid to make decisions and set the example in implementing them. Người lãnh đạo không chỉ ra quyết định, mà còn phải làm gương trong khi thực hiện những quyết định đó. • Failure is not an option on the battlefield, but it certainly is in training. Khi ra trận/thi đấu/ chính thức làm công việc, thì phải hướng tới chiến thắng; nhưng trong khi tập luyện thất bại là điều cần thiết, vì bạn sẽ học từ những thất bại. • Instead of asking them to try harder, how about asking them to think differently? Thay vì bảo nhân viên của mình phải nỗ lực hơn, thì hãy bảo họ nghĩ khác đi. Thay vì hùng hục lao đầu vào đá, thì hãy nghĩ xem có cách làm nào khác thông minh hơn không. • Real leaders promote the idea that disagreement does not equal disrespect. Những ngưỡi lãnh đạo có tài luôn cổ súy cho việc tranh luận. Bất đồng ý kiến không có nghĩa là không tôn trọng. • The magic of exchanging ideas is getting to know what and how other people think. Trao đổi ý kiến là một phương thức kỳ diệu để biết người khác nghĩ gì, và như thế nào. Nếu bạn không comment ở blog này, thì ai mà biết bạn nghĩ gì?:) • Demonstrating that you care about people as individuals rather than as personnel or “human resources” is absolutely critical. Hãy chú ý đến từng con người trong đơn vị bạn, chứ không phải chú ý đến nhân sự hay “nguồn nhân lực”. Nói cách khác, hãy “người ” hơn. Sếp của tôi khi họp với tôi bao giờ cũng hỏi thăm về gia đình, sức khỏe trước thay vì nhảy ngay vào chủ đề công việc. • Professional respect requires that we recognize and value the unique contribution of every individual in the organization. Phải biết ghi nhận đóng góp của từng cá nhân trong tập thể. Như thế mới là tôn trọng. • The foundation of every healthy relationship is trust. Relationships usually fail because of an actual or perceived breach of trust. Just as he earns professional respect, a leader must earn trust. Mọi mối quan hệ lành mạnh cần được xây dựng trên cơ sở sự tin cậy lẫn nhau. Quan hệ thường đổ vỡ từ chỗ mất lòng tin. Điều này không chỉ áp dụng trong nghệ thuật lãnh đạo, nơi người lãnh đạo cần phải tạo dựng niềm tin trong nhân viên/quần chúng, mà còn đúng trong mọi quan hệ khác. Chẳng hạn các quan hệ cúc cu thường không còn cúc cu khi bên này cho rằng bên kia cúc cu với một bên thứ ba, hoặc vì một lý do nào khác không còn cúc cu với mình nữa, mặc dù sự thật cúc cu có thể vẫn còn cúc cu lắm."
- Google Reader (79) (view on Google Sidewiki)

Thứ Năm, 12 tháng 11, 2009

Thiên tai ... Địa kiếp ... NHÂN hoạ... Cái nào đáng sợ đây?

Tin từ Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:

TRÊN 45 % CÁC TẬP ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY HOẠT ĐỘNG HIỆU QUẢ THẤP ?!




- Chiều qua 5.11, Uỷ bANThường vụ QH đã gửi bản báo cáo việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các TĐ, TCty Nhà nước đến các đại biểu QH.

Theo báo cáo giám sát thì tổng nguồn vốn của 90 TĐ, TCty đến 31.12.2008 là 1 triệu 241 nghìn tỉ đồng. Với quy mô về vốn, tài sản, vai trò quan trọng trong hệ thống kinh tế nhà nước, hoạt động của TĐ, TCty Nhà nước luôn song hành cùng tiến trình phát triển kinh tế của đất nước. Chỉ tính riêng trong năm 2008, khối doanh nghiệp nhà nước, mà chủ đạo là các TĐ, TCty đã đóng góp 40% giá trị GDP, tạo ra 39,5% giá trị sản xuất công nghiệp, trên 50% kim ngạch xuất khẩu.

Theo đánh giá chung thì nhiều TĐ, TCty đóng vai trò là công cụ quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết thị trường, ổn định giá cả, đi đầu trong việc thực hiện các chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước về giải quyết công ăn, việc làm, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội... Quy mô vốn chủ sở hữu của hầu hết các TĐ, TCty được bảo toàn và không ngừng tăng trong những năm qua.

Hiệu quả chưa tương xứng, nợ đáng báo động

Bên cạnh những thành tích nổi bật, bản báo cáo giám sát cũng chỉ rõ hàng loạt những tồn tại, hạn chế rất đáng lo ngại. Về hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, theo báo cáo có tới 45,05% các TĐ, TCty hoạt động hiệu quả thấp (tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 10%). Chính điều này làm ảnh hưởng đến hiệu quả chung của khu vực kinh tế nhà nước.

So sánh với các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp ngoài nhà nước, các doanh nghiệp có vốn FDI thì hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của Nhà nước tại TĐ, TCty còn thấp, chưa tương xứng với quy mô, nguồn lực tài chính của Nhà nước, vị trí và vai trò trong nền kinh tế.

Không ít đơn vị, nhất là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu nhờ vào vốn vay ngân hàng và vốn chiếm dụng, cơ cấu tài chính không hợp lý, dễ phát sinh rủi ro về cân đối dòng tiền, nợ phải trả cao gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu.

Cụ thể, năm 2006 có 38 TĐ, TCty hệ số an toàn vốn vượt ngưỡng 3 lần, chiếm 40% số TĐ, TCty. Năm 2007 có 31 TĐ, TCty chiếm 32% số TĐ, TCty; năm 2008 có 31 TĐ, TCty chiếm 32% số TĐ, TCty có hệ số an toàn vốn vượt ngưỡng 3 lần.

Tính đến 31.12.2008, một số đơn vị có tỉ lệ tổng nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu rất cao (trên 10 lần) là: Tổng Công ty Xây dựng CTGT 1 (21,6 lần); TCty Lắp máy Việt Nam (17,4 lần); TCty Xây dựng CTGT 4 (14 lần), TCty Thành An (13,9 lần); TCty Xây dựng công nghiệp Việt Nam (12,9 lần); TCty cổ phần XNK và xây dựng Việt Nam (12,2 lần); TCty Xây dựng công trình giao thông 8 (12 lần); TCty Thủy tinh và Gốm xây dựng (11,3 lần), Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam, Vinashin (10,9 lần)...

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến 31.12.2008, tổng nợ tổ chức tín dụng của 7 tập đoàn (gồm các tập đoàn: Dầu khí, Than khoáng sản, Caosu, Dệt may, Công nghiệp tàu thủy, Điện lực, Bưu chính Viễn thông, không tính Tập đoàn Bảo Việt) là 128 nghìn 786 tỉ đồng, tăng 20,54% so với cuối 2007 và chiếm gần 10% so với tổng nợ tín dụng đối với nền kinh tế tại cùng thời điểm.

Một số đơn vị có nợ lớn là Tập đoàn Điện lực Việt Nam nợ 66 nghìn 764 tỉ đồng, chiếm 51,84% tổng nợ tín dụng của 7 tập đoàn; Tập đoàn Dầu khí Việt Nam nợ 21 nghìn 477 tỉ đồng, chiếm 16,67%; Tập đoàn Vinashin nợ 19 nghìn 885 tỉ đồng, chiếm 15,44%.

Báo cáo cho biết, đây chủ yếu là nợ trung và dài hạn, phục vụ cho các dự án đầu tư mang tính chiều sâu và các kế hoạch phát triển. Cụ thể, nợ ngắn hạn chiếm 15%, nợ trung và dài hạn chiếm 85% tổng nợ của các TĐ.

Cũng theo báo cáo giám sát thì đa số các TĐ, TCty có số nợ phải thu lớn, tính đến 31.12.2008, số nợ phải thu đã tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2007, tổng số nợ phải thu của các TĐ, TCty là 185 nghìn 826 tỉ đồng, chiếm 38,26% vốn chủ sở hữu và 14,96% tổng tài sản của các TĐ, TCty.

Về chất lượng nợ, tổng nợ quá hạn của 7 tập đoàn đến 31.12.2008 là 4 nghìn 168 tỉ đồng, chiếm 3,24% tổng dư nợ của các tập đoàn tại các TCTD. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn chiếm 15% tổng số nợ quá hạn.

Tập đoàn Vinashin có số nợ quá hạn là 3 nghìn 812 tỉ đồng, chiếm 19,17% dư nợ của TĐ và chiếm 91,4% tổng số nợ quá hạn của cả 7 TĐ. Nợ quá hạn của 9 nhóm TCty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng là 1 nghìn 208 tỉ đồng, chiếm 10,5% tổng số nợ tại tổ chức tín dụng.

Đầu tư ra ngoài ngành...thua lỗ

Theo báo cáo có 47 TĐ, TCty tham gia đầu tư vào lĩnh vực tài chính, chứng khoán, ngân hàng... với tổng số vốn đầu tư rất lớn, cuối năm 2006 là 6 nghìn 434 tỉ đồng, cuối năm 2007 là 16 nghìn 190 tỉ đồng và cuối năm 2008 là 21 nghìn 164 tỉ đồng.

Tuy nhiên theo nhận định thì hiệu suất đầu tư (lợi nhuận trên vốn đầu tư) tính chung là rất thấp, thấp hơn so với đầu tư vào ngành kinh doanh chính của các đơn vị này. Năm 2008 thị trường chứng khoán suy giảm mạnh. Hầu hết các TĐ, TCty đều bị thua lỗ hoặc không phát sinh lợi nhuận. Tính đến hết tháng 12.2008, Tổng mức đầu tư của EVN vào lĩnh vực chứng khoán là 214 tỉ đồng; các TĐ góp vốn vào quỹ đầu tư của TĐ Dầu khí Việt Nam là 368,9 tỉ đồng; TĐ Caosu 271 tỉ đồng; TĐ Công nghiệp tàu thủy 144 tỉ đồng đều không phát sinh lợi nhuận.

Cũng theo kết quả giám sát thì nhiều TĐ chạy đua đầu tư ra ngoài ngành, vào chứng khoán, trong khi đang thiếu nguồn lực tài chính để đầu tư phát triển các dự án quan trọng của Nhà nước. Điển hình là EVN, năm 2008, đơn vị này đầu tư vào lĩnh vực tài chính khoảng 2 nghìn 146 tỉ đồng, trong khi từ nay đến hết năm 2015 để đảm bảo kế hoạch đầu tư xây dựng nguồn điện đơn vị còn thiếu 382 nghìn 931 tỉ đồng.

Mô hình tổ chức TĐ, TCty còn bất cập

Báo cáo giám sát cũng cho thấy nhiều TCty làm ăn thua lỗ, tính đến cuối năm 2008 vẫn còn 23 đơn vị có lỗ lũy kế với tổng số tiền là 2 nghìn 797 tỉ đồng. Cụ thể, năm 2008, TCty Lắp máy lỗ phát sinh 68,75 tỉ đồng, TCty Xây dựng CTGT 4 lỗ phát sinh 52,52 tỉ đồng, Tập đoàn Dệt May lỗ phát sinh 27,98 tỉ đồng...

Đáng chú ý, TCty Xây dựng đường thủy có tới 7/8 đơn vị thành viên hạch toán độc lập chưa cổ phần hóa bị lỗ làm mất toàn bộ vốn chủ sở hữu của TCty (việc mất phần vốn của Nhà nước ở các đơn vị thành viên làm cho phần vốn chủ sở hữu của toàn TCty bị âm trong 3 năm liên tiếp, năm 2006 âm 257.756 triệu đồng, năm 2007 âm 444.010 triệu đồng; năm 2008 âm 464.434 triệu đồng).

Theo nhận định chung thì việc thực hiện chính sách pháp luật về quản lý vốn, tài sản nhà nước tại TĐ, TCty trên thực tế còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn; hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp còn nhiều hạn chế...

Mô hình tổ chức của TĐ, TCty còn nhiều bất cập; quản trị doanh nghiệp còn hạn chế...Từ đó, UB TVQH đề nghị rà soát lại cơ chế chính sách, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, giám sát chặt chẽ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các TĐ, TCty.


Duy Thanh
( Nguồn: Lao Động số 252 Ngày 06/11/2009 Cập nhật: 8:20 AM, 06/11/2009


Ong HTH oi la ong HTH - Ong co nghe ko?

Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu
(Năm nhận xét về phát biểu của PTT Hoàng Trung Hải trên Tuổi Trẻ)

Bài phỏng vấn...

Xem thu de biet...

04/06: Công đoàn Đoàn kết chiến thắng

23/08: Nối vòng tay lớn

10/09: Người Đông Đức đi Tây

02/10: Gorbachev ở Berlin

28/10 Tiệp Khắc trấn áp

9/11 Tường Berlin sụp đổ

8/12 Romania nổi dậy

25/12 Hành hình vơ chồng Tổng Thống Romania

Người Việt chứng kiến biến cố Berlin 1989

Nhìn lại Cách mạng Ba Lan

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2009

Một tấm gương!!!

Đọc được bài này thật không tin có việc như vậy: NGƯỜI ĐÀN ÔNG SUỐT ĐÊM CÕNG VỢ DƯỚI GIẾNG LẠNH.
Minh không biết có làm được như vậy không?

A Bad day

Thật là một ngày quá tệ đến với mình.
Đọc bài GHEN http://blogcogaidolong.multiply.com/journal/item/529 minh thấy cười không nổi trong tâm trạng khủng hoảng của mình lúc này.
Mái ấm gia đình mình rồi sẽ ra sao???
Làm sao để thoát ra tình trạng này??

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2009

Bai doc hay!

Giáo dục Việt Nam và Viện IDS

Trần Gia Phụng


Trong tháng qua, trên các trang Internet ở trong cũng như ngoài nước, xuất hiện một bài báo của giáo sư Hoàng Tụy, cùng một nội dung, nhưng dưới nhiều tiểu đề khác nhau, ví dụ “Giáo dục, xin cho tôi nói thẳng” (Tia Sáng Online), “Giáo dục, không thể đổi mới vụn vặt” (Tuần Việt Nam).

Giáo sư Hoàng Tụy, sinh năm 1927 tại Quảng Nam, cháu nội cụ Hoàng Văn Bảng. Hoàng Văn Bảng là em ruột của Hoàng Kim Tích, tức Hoàng Diệu. Hoàng Diệu đã tuẫn tiết khi thành Hà Nội bị Pháp chiếm năm 1882. Hoàng Diệu là vị tướng lãnh duy nhất đã chết theo thành trong suốt một ngàn năm lịch sử thành Thăng Long (Hà Nội). Từ năm 1961 đến 1968, giáo sư Hoàng Tụy là Chủ nhiệm Khoa Toán học, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ 1980 đến 1989, ông là Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam. Ông là người đã phát minh ra phương pháp “lát cắt Tụy” (Tuy’s cut), được coi là cột mốc đầu tiên đánh dấu sự ra đời của “Lý thuyết tối ưu toàn cục” (global optimization). Ông có nhiều công trình nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí khoa học uy tín tại các nước Âu Mỹ. Ông nổi tiếng chẳng những ở trong nước mà cả trên thế giới.

Hoàng Tụy là chủ tịch Hội đồng Viện Nghiên Cứu Phát triển (IDS) tại Hà Nội, vừa mới tự giải thể ngày 14-9-2009, để phản đối quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ngày 24-7-2009 của Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng, một ngày trước khi quyết định nầy có hiệu lực (15-9-2009).

Trong bài báo kể trên, giáo sư Hoàng Tụy cho biết: “Căn nhà GD đã cũ nát thảm hại nhưng cứ loay hoay nay cơi nới chỗ này, mai sửa chữa chỗ kia, rốt cuộc thành ra căn nhà dị dạng chẳng ai muốn ở…. Điều rất lạ là các nghị quyết của Đại hội Đảng và các Hội nghị TƯ 3, 7, 9 đều đòi hỏi phải tiến hành cải cách GD như một yêu cầu bức thiết của xã hội, nhưng những vị nhận trách nhiệm trực tiếp thì lại chẳng hề quan tâm thực hiện các nghị quyết ấy, thậm chí còn nói ngược lại… Chỉ có điều đổi mới thế nào thì chẳng ai giải thích nổi, chẳng ai biết rõ, cho nên cứ đổi mới tùy hứng, tùy tiện, tùy nghi, theo kiểu đầu Ngô mình Sở….”

Giáo sư Hoàng Tụy đề nghị cải cách giáo dục cần phải có hệ thống, chứ không phải đổi mới vụn vặt, và nhất là không thể coi giáo dục như một phòng thí nghiệm. vì “Thí nghiệm đi thí nghiệm lại không biết bao nhiêu lần, tốn kém bạc tỉ và không tính được hết thiệt hại cho các thế hệ học sinh nạn nhân thí nghiệm. Rất khó hiểu tại sao lợi ích của học sinh bị xem thường đến vậy.”

Về giáo dục đại học, giáo sư Hoàng Tụy cho rằng sự trì trệ bắt nguồn từ quy chế đào tạo tiến sĩ, phó tiến sĩ và quy chế bổ nhiệm giáo sư phó giáo sư còn nhiều điểm sai lầm một cách ấu trĩ so với ngay cả một số nước trong khu vực. Giáo sư Hoàng Tụy còn trích dẫn ý kiến của cựu đại tướng Võ Nguyên Giáp và của cố giáo sư Lê Văn Giạng, đã nhiều lần yêu cầu chấn hưng giáo dục bằng những biện pháp có tính cách cách mạng nghiêm túc và thực sự khoa học. Bài báo của giáo sư Hoàng Tụy đã gây tiếng vang lớn ở trong và ngoài nước. Nhà cầm quyền cộng sản không thể đàn áp vị giáo sư uy tín lão thành, nên quay qua xóa sổ những trang điện tử nào đăng bài báo nầy, như tờ Tia Sáng Online, bị đình bản, nhằm đe dọa giới báo chí trong nước.

Trong bài báo trên Tia Sáng Online “Giáo dục, xin cho tôi nói thẳng”, giáo sư Hoàng Tụy tự cho là đã nói thẳng những suy nghĩ của ông về nền giáo dục dưới chế độ cộng sản. Đúng là giáo sư Hoàng Tụy có nói thẳng, nhưng dường như ông chỉ mới nói thẳng nửa chừng, chứ ông chưa nói thẳng hết, ông chưa đi cho trọn đưòng thẳng. Giáo sư Hoàng Tụy, kể cả cựu tướng Võ Nguyên Giáp, cố giáo sư Lê Văn Giạng, chỉ nói thẳng về những nguyên nhân có tính cách cơ chế tổ chức, về hiện tượng bên ngoài, về những vận hành trong giáo dục, về những kết quả yếu kém, chứ các ông không đi hay chưa đi thẳng vào vào vấn đề căn nguyên cốt lõi, đưa đến sự suy thoái của nền giáo dục dưới chế độ cộng sản Việt Nam hiện tại.

Căn nguyên cốt lõi của sự suy thoái giáo dục Việt Nam hiện tại chỉ cần tóm gọn trong một câu như sau: Đó là chính sách giáo dục phục vụ chính trị, tức phục đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN). Chính sách giáo dục nầy do Bộ trưởng Giáo dục Liên Xô là Ca-lê-ni-cốp (Kalenikov) (?) đưa ra, và do Nguyễn Khánh Toàn nhập cảng vào Việt Nam năm 1946, khi giữ chức Thứ trưởng Bộ Giáo dục chính phủ Hồ Chí Minh cải tổ ngày 3-11-1946. Nguyễn Khánh Toàn dạy tiếng Việt ở Moscow từ năm 1927, có tên Nga là Minin, có vợ Nga, vào học ở Học viện Thợ thuyền Đông phương (Université des travailleurs d’Orient) từ năm 1928 đến năm 1931. Sau đó, ông ở lại Liên Xô. Năm 1939, ông cùng Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) qua Trung Hoa, cùng đến Diên An, căn cứ của CSTH, năm 1941. Ông ở lại Diên An, đến năm 1946 mới trở về Việt Nam.

Chính sách giáo dục phục vụ chính trị được Đảng CSVN thi hành từ năm 1946 cho đến ngày nay. Chính sách nầy còn được củng cố thêm bằng luật số 11/1998/QH10 của Quốc hội Hà Nội, áp dụng từ ngày 2-9-1998, theo đó: “… Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân… lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.”

Vì chủ trương giáo dục phục vụ chính trị, phục vụ Đảng, “lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí minh làm nền tảng”, nên nguyên tắc căn bản của nền giáo dục cộng sản là “hồng hơn chuyên”. Hồng tức có tính đảng, tính Mác-xít hơn chuyên là chuyên môn. Chủ trương nầy bao trùm và chi phối toàn bộ tất cả các lãnh vực của nền giáo dục cộng sản.

Thứ nhất, tổ chức và cơ chế giáo dục hoàn toàn do Đảng CSVN kiểm soát. Từ Bộ Giáo dục, các trường đại học, các trường trung tiểu học đều có đảng uỷ để kiểm soát nhà trường, bảo đảm các cơ quan nầy theo đúng đường lối chủ trương của Đảng. Việc bổ nhiệm giáo chức trung tiểu học do Bộ Giáo dục và Ty Giáo dục địa phương nằm trong tay đảng uỷ. Ngay cả việc phong cấp giáo sư đại học cũng cũng do Đảng kiểm soát.

Theo quy chế hiện nay, giáo sư đại học thực thụ do Hội đồng Giáo sư bầu lên mới được phong cấp. Tuy nhiên, chỉ những giáo sư nào gia nhập Đảng CSVN mới được bầu, còn những giáo sư khác, dầu giỏi đến đâu, dầu có nhiều công trình nghiên cứu danh tiếng, mà không vào Đảng CSVN cũng không được bầu chọn. Tình trạng nầy hiện đang xảy ra tại các đại học Việt Nam, mà giáo sư Hoàng Tụy cho rằng “các quy chế đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, hay công nhận, bổ nhiệm GS, PGS của ta vẫn còn nhiều điểm ấu trĩ so với ngay cả một số nước trong khu vực.” (bài đã dẫn) Giáo sư Hoàng Tụy dùng chữ “ấu trĩ” để tránh né vấn đề, chứ nếu nói thẳng “toạc móng heo”, thì có chuyên môn nhưng không hồng, không Đảng, thì không được phong hàm giáo sư thực thụ. Vì vậy, cho đến nay, hầu như chưa có một giáo sư đại học nào ở trong nước được các đại học ngoại quốc hay được UNESCO thừa nhận.

Thậm chí ở các cơ quan giáo dục, các trường đại học, trung tiểu học đều có công an kiểm soát chặt chẽ. Các trường học đều có công an bảo vệ văn hóa theo dõi. Những viên công an bảo vệ văn hóa trà trộn trong ban giảng huấn, trong hàng ngũ sinh viên, học sinh, trong các sinh hoạt của nhà trường và trong các quán giải khát, các quán hàng rong chung quanh trường. Ngoài công an bảo vệ văn hóa, sinh viên học sinh còn được đoàn ngũ hóa trong tổ chức Đoàn Thanh Niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Đội Thiếu niên Tiền phong. Đoàn và Đội là tai mắt để theo dõi chẳng những trường học mà cả gia đình nữa, vì các em sẽ báo cáo tất cả những hoạt động ở trường học và ở trong nhà cho cán bộ chỉ huy.

Thứ hai, chương trình học bao gồm cả lý thuyết Mác-xít, chủ nghĩa cộng sản, nhất là ở đại học và trung học cấp 3 (đệ nhị cấp trước 1975) và là môn thi bắt buộc để lên lớp. Sách giáo khoa là pháp lệnh, không ai được giảng dạy những gì ra khỏi sách giáo khoa. Nhiều khi sách giáo khoa bị viết sai, nhưng giáo viên cũng phải tuân theo, không được dạy khác sách giáo khoa, ngoài sách giáo khoa. Giáo viên và cả học sinh không được suy nghĩ hay phát biểu bất cứ ý kiến gì mới lạ, ngoài những gì cộng sản chủ trương, ngoài những điều đã học ở trường lớp và sách giáo khoa. Sách giáo khoa phải luôn luôn đề cao tính ưu việt của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ca tụng Đảng CSVN, ca tụng các lãnh tụ Đảng. Không phải chỉ ca tụng Đảng CSVN, mà cả các đảng cộng sản trên thế giới, từ Liên Xô, Đông Âu, Trung Hoa… mặc dù các chế độ cộng sản Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ.

Thứ ba, tất cả các kỳ tuyển sinh đều dựa trên căn bản lý lịch. Lý lịch học sinh được chia thành 14 bậc. Lý lịch càng hồng, càng đỏ thì điểm tuyển càng thấp, càng dễ đậu. Con “ngụy quân”, “ngụy quyền” ở bậc thứ 13 hay 14, nên có khi điểm rất cao, nhưng vẫn không được tuyển chọn. Trong trường hợp có học bổng, nhất là học bổng ra nước ngoài, lại càng rất khó. Bệnh lý lịch đi kèm theo bệnh thân thế. Con mấy ông càng lớn, càng hồng, càng đỏ, càng dễ thi đậu, dốt cũng đậu.

Chính sách giáo dục phục vụ chính trị, tức phục vụ Đảng CSVN, cần “hồng hơn chuyên”, nghiền nát tất cả những sáng kiến nào đi ra ngoài phạm trù Mác-xít, chủ nghĩa cộng sản và nhất là chủ trương của Đảng CSVN. Vì vậy việc các nhà trí thức hàng đầu trong nước thành lập Viện Nghiên cứu Phát triển (Institute of Development Studies, viết tắt là IDS) ở Hà Nội vào cuối năm 2007 là một việc làm hoàn toàn trái ngược với chính sách giáo dục phục vụ chính trị của Đảng CSVN.

Viện Nghiên cứu Phát triển là nơi tập trung những bộ óc để suy nghĩ (tiến Anh là “think tank”), nghiên cứu, tìm tòi những sáng kiến mới lạ hầu xây dựng đất nước. Đúng là Viện IDS đã làm công việc “dã tràng xe cát biển Đông”, vì đã đem “đàn khảy tai trâu”. Đảng CSVN chỉ cần những người biết vâng lời (Đảng) hơn là biết suy nghĩ, không cần sáng kiến mới lạ, không cần nghe ai góp ý, bởi vì sáng kiến hay góp ý một lúc, thì còn gì là Đảng CSVN nữa. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM SINH RA TRONG SỰ NGHÈO ĐÓI, DỐT NÁT, LỚN LÊN BẰNG LỪA PHỈNH VÀ TỒN TẠI BẰNG BẠO LỰC. Dân nghèo và dốt mới dễ tuyên truyền, dễ lừa phỉnh, che giấu, và cuối cùng dùng bạo lực để thống trị. Dưới “bạo lực cách mạng” của CSVN, hiện nay ở trong nước, tất cả những ai có dấu hiệu bất đồng chính kiến, kể cả tỏ dấu hiệu yêu nước đều bị vào tù hoặc bị cô lập. Cán bộ có chút quyền hành lo mải mê tham nhũng. Dân chúng, kể cả thanh niên, sinh viên học sinh, chỉ còn con đường duy nhất là im lặng hoặc lao vào ăn chơi, nhậu nhẹt, để qua ngày đoạn tháng.

Để tiếp tục tồn tại, việc tất yếu của Đảng CSVN là phải kiếm cách phong tỏa các bộ óc, cho vào kho phế thải hoặc đóng băng các bộ óc, để khỏi có chuyện sáng kiến, hướng dẫn xã hội, gây phiền toái cho Đảng. Do đó, ngày 24-7-2009 Thủ tướng nhà cầm quyền cộng sản Nguyễn Tấn Dũng ký Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg ban hành danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ, có hiệu lực từ ngày 15-09-2009. Quyết định nầy hạn chế việc nghiên cứu của Viện IDS hay đúng hơn là trùm óc, trói tay các nhà nghiên cứu Việt Nam. Vì vậy, một ngày trước khi quyết định 97 có hiệu lực, Hội đồng Viện IDS họp phiên cuối cùng ngày 14-9-2009, quyết định tự giải thể, để phản đối quyết định của nhà cầm quyền CSVN. Các ông không tự đóng cửa để phản đối thì các ông cũng sẽ bị CSVN đóng cửa nếu các ông không muốn đồng hóa với cộng sản.

Chuyện dân gian kể rằng sau năm 1975, khi CSVN cưỡng chiếm Sài Gòn, một thầy đờn mù đã sáng mắt và lái xe Honda hai bánh chạy khắp thành phố. Thế mà mãi đến năm 2009, các nhà trí thức hàng đầu Việt Nam trong Viện IDS, đụng chạm trực tiếp với nhà cầm quyền cộng sản, mới giật mình thức tỉnh và sáng mắt. Tuy nhiên các ông sáng mắt đã quá trễ. Các ông bất lực trước cỗ máy mà các ông đã tốn bao nhiêu công sức để dựng lên từ bấy lâu nay. Giáo sư Hoàng Tụy rất thành thật ngao ngán tâm sự trên đài RFA trong cuộc phỏng vấn ngày 30-10-2009 của phóng viên Khánh An như sau:

Muốn lay chuyển cái tình hình này thì chỉ những người như chúng tôi nói là không đủ. Các bạn trẻ, các bạn sinh viên, các bạn học sinh phải lên tiếng nhiều nữa, bởi vì chính các bạn là chịu ảnh hưởng của cái nền giáo dục này, và tương lai của các bạn tuỳ thuộc nhiều vào cái chất lượng của nền giáo dục này, cho nên các bạn phải lên tiếng, các bạn phải nói. Còn chúng tôi dẫu sao cũng là những người gần đất xa trời rồi và tiếng nói nó cũng chỉ có tác dụng chừng nào thôi.”

Giáo sư Hoàng Tụy kêu gọi thanh niên, sinh viên, học sinh tiếp tay sửa đổi nền giáo dục Việt Nam. Ở đây có ba điểm cần làm rõ.

Thứ nhất, nền giáo dục Việt Nam hiện tại không có cách gì sửa đổi được hết, nếu vẫn tiếp tục duy trì chính sách “Giáo dục phục vụ chính trị” của chế độ CSVN. Dù có cải cách đi cải cách lại như giáo sư Hoàng Tụy đã đề cập đến, thì nền giáo dục cũng phải nằm trong chủ trương phục vụ Đảng CSVN, trong vòng “kim cô” của Đảng CSVN. Cải cách thế nào đi nữa cũng vô ích. Do đó, để cải tiến giáo dục chỉ còn cách duy nhất là phải cắt bỏ hẳn chính sách giáo dục phục vụ chính trị, phải để cho nền giáo dục được tự do thì mới tiến bộ được.

Thứ hai, chính sách giáo dục phục vụ chính trị và cả chế độ CSVN hiện tại đều do các đảng viên CS miệt mài xây dựng trong mấy chục năm qua, trong đó có cựu đại tướng Võ Nguyên Giáp và có cả các vị giáo sư trong Viện IDS. Ông Võ Nguyên Giáp lo võ công, còn các nhà trí thức lo văn trị. Tất cả các ông đều phải chịu trách nhiệm về chế độ nầy, thì các ông phải xắn tay áo lên để giải quyết, nghĩa là chính các ông phải có bổn phận cương quyết dẹp bỏ chính sách giáo dục phục vụ chính trị, trước khi kêu gọi đến thanh niên, sinh viên, học sinh.

Thứ ba, nếu Đảng CSVN nhất quyết bảo vệ chính sách giáo dục phục vụ chế độ, không chịu cắt bỏ hẳn cái ung bướu giáo dục nầy, không chịu cởi trói giáo dục, thì chính các ông, chính các đảng viên CSVN, phải can đảm vận động, kêu gọi giải thể luôn chế độ CSVN. Khi đó, tự nhiên chính sách giáo dục quái đản kia cũng bị dẹp bỏ, để cho nền giáo dục được khai phóng, mở cửa tương lai cho Việt Nam.

Theo như lời giáo sư Hoàng Tụy đã nói, các ông già rồi, các ông gần đất xa trời. Vậy các ông còn sợ gì nữa? Các ông đã lỡ làm sai thì phải can đảm nhận lấy trách nhiệm và cố gắng sửa sai, dầu chẳng còn nhiều năm tháng trên cõi đời như lão tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu các ông không làm gì được, thì tối thiểu các ông phải can đảm chứng tỏ cho mọi người thấy rằng các ông không còn muốn liên hệ đến Đảng CSVN, bằng cách trả thẻ đỏ lại cho Đảng CSVN. Các ông hãy công khai tuyên bố rằng đã đến lúc Đảng CSVN phải giải tán, phải chấm dứt nhiệm vụ.

Làm như thế, các ông mới xứng đáng là trí thức lương thiện, “tri hành hợp nhất”, mới mở đường cho tuổi trẻ noi theo và tiến lên. Các ông mới thật sự làm nên lịch sử. Mong lắm thay!

Toronto, Canada

© 2009 Trần Gia Phụng

http://www.talawas.org/?p=12894

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2009

Có một cách kiếm tiền qua mạng mà tôi đã thử. Và nếu Bạn muốn có một số tiền để tiêu vặt không? Nếu có thì hãy làm theo những chỉ dẫn sau đây: kiếm tiền qua mạng Internet , bạn chỉ cần ngồi trên mạng và giới thiệu các trang web của nước ngoài là bạn đã có một số tiền rồi đó và Greenhorse sẽ gửi số tiền đó cho mình tới nhà qua đường Bưu điện đảm bảo, Vì tôi cũng đã nhận được tiền ....nếu bạn cũng muốn như vậy thì hãy làm theo hướng dẫn:
*Bước 1: hãy vào địa chỉ sau: http://tickerbar.info/join_now.ghc?r=241665824
*Buớc 2 - Email address : địa chỉ mail của bạn.
- First name / last name : họ và tên.
- Birthday: tháng/ngày/năm sinh
- Gender (giới tính) : chọn "male" nếu bạn là nam, chọn "female" nếu bạn là nữ.
- Own Credit Card : chọn No (dù có hay không)
- Country : Vietnam
-TERMS OF SERVICE : chọn YES.
Sau khi điền đầy đủ thông tin, hãy click chuột vào mục "Go To STEP2"
* Buớc 3 - Password : mật khẩu (bạn tự chọn một mật khẩu cho mình rồi điền vào)
- Confirm : đánh lại mật khẩu một lần nữa để xác nhận.
-Time Zone : chọn (VST)
- Phone Number: Số điện thoại của bạn (84/mã vùng/số điện thoại của bạn)
- Spoken Language: Vietnamese
- Secondary Language: Vietnamese
-Street Address: địa chỉ nhà (chính xác, không dấu)
- Street Address_2: địa chỉ nhà thứ 2 (nếu có) - City/Region: hcmc
- State/Province: hcmc
- Zip/Postal Code :
Cách tra số zip của mình như sau :
http://danhba.vdc.com.vn/tracuu/danhba/mavungdt.asp
Nó nằm ở cột ngoài cùng, tên là “Mã bưu chính”. VD: hiện nay tôi đang
ở hà nội mã cước ghi là 10000, tương tự cho các tỉnh thành phố khác
Bạn tra cứu ở danh sách sau : Quảng Ninh : 36000 _ TP. Hà Nội : 10000
_An Giang : 94000 _Bà Rịa Vũng Tàu : 74000 _ Bạc Liêu : 99000 _Bắc Kạn
: 17000 _ Bắc Giang : 21000 _Bắc Ninh :16000 _Bến Tre 3000 Bình Dương
:72000 _Bình Định :53000 _Bình Phước: 77000 _Bình Thuận :62000 Cà Mau:
96000 _Cao Bằng: 22000 _Cần Thơ - Hậu Giang: 92000 _TP. Đà Nẵng :59000
ĐắkLắk - Đắc Nông :55000 _Đồng Nai :71000 _ Đồng Tháp: 93000 _Gia Lai
:54000 Hà Giang :29000 _Hà Nam :30000 _Hà Tây :31000 _Hà Tĩnh :43000
_Hải Dương :34000 TP. Hải Phòng :35000 _Hoà Bình :13000 _Hưng Yên
:39000 _TP. Hồ Chí Minh :70000 Khánh Hoà :57000 _Kiên Giang :95000 _
Kon Tum :58000 _Lai Châu - Điện Biên: 28000 Lạng Sơn :20000 _Lao Cai
:19000 _Lâm Đồng: 61000 _Long An 1000 _Nam Định: 32000 Nghệ An :42000
_Ninh Bình :40000 _Ninh Thuận: 63000 _Phú Thọ: 24000 _Phú Yên :56000
Quảng Bình :45000 _Quảng Nam :51000 _ Quảng Ngãi :52000 _Quảng Ninh
:36000 Quảng Trị :46000 _Sóc Trăng :97000 _Sơn La :27000 _Tây Ninh
:73000 _Thái Bình :33000 Thái Nguyên: 23000 _Thanh Hoá: 41000 _Thừa
Thiên Huế :47000 _Tiền Giang 2000 Trà Vinh: 90000 _Tuyên Quang :25000
_ Vĩnh Long :91000 _Vĩnh Phúc :11000 _Yên Bái :26000 )
- Occupation : Other
- Income : chọn less than $24,999
- Parental Consent : click chuột vào ô trống để đánh dấu.
Sau khi hoàn thành, hãy click chuột vào "GO TO FINAL STEP"
* Luu ý: Nếu hệ thống đòi hỏi Question Password (mật khẩu hỏi) và Answer Password (mật khẩu trả lời) thì bạn hãy tự chọn cho mình và đánh vào. Lưu ý là mật khẩu hỏi và mật khẩu trả lời không được giống nhau.
* Buớc 3: Click vào "Activate Account" Click vào dòng màu dỏ download...VD:
DOWNLOAD TICKERBAR_186830085.exe
Xong rồi đó! Bây giờ bạn đã có một tài khoản trong Green Horse rồi. Bây giời bạn chỉ việc ra sức giới thiệu với nhiều nguời đăng ký (giống như tôi đã giới thiệu cho bạn ) khi có được 90$ thì GreenHorse sẽ gửi SEC đến địa chỉ bạn đã đăng ký và bạn chỉ việc cầm CMND đến ngân hàng rút tiền.
Có hai cách kiếm tiền từ Greenhorse.
-Cách thứ nhất: Bạn hãy copy bài viết này của mình ra thành nhiều bản và đăng (miễn phí) trên những trang web như http://webraovat.com , http://raovat.net, gởi mail cho bạn bè hoặc đăng trên các diễn đàn mà bạn đang tham gia để giới thiệu cho nhiều nguời (bằng account của bạn ) đăng càng nhiều càng tốt đặc biệt là trên những website có nhiều người truy cập, vì như vây các tin bạn đăng sẽ có cơ hội xuất hiện trên các công cụ tìm kiếm như Yahoo, Google rất nhiều, bạn có thể vào www.vn-n.com mà đăng vì trên đó có rất nhiều trang web nổi tiếng của Việt Nam. Bạn có thể giới thiệu ở ngoài cũng được, nói chung bằng mọi cách.
-Cách thứ hai: Sử dụng Tickerbar khi truy câp internet, Tôi ra máy ngoài dịch vụ internet có sử dụng Tickerbar được không?
Được, bạn có thể sử dụng Tickerbar ở máy ngoài dịch vụ internet, nếu ở dịch vụ không có cài sẵng thì bạn hãy vào www.greenhorse.com vào mục members login sau đó dùng địa chỉ mail mà bạn đã đăng kí với Greenhorse làm username và nhập mật khẩu bạn đã chọn khi đăng ký nhập vào ô password sau khi đăng nhập thành công bạn hãy bấm vào link download TickerBar™ và bắt đầu download, sau khi download xong bạn bắt đầu cài đặt. các thao tác cài đặt tôi làm không quá một phút.
**Hướng đẫn cài đặt TickerBar™ : Trước khi tiến hành cài đặt thì bạn phải chắc rằng máy tính của bạn đã được kết nối internet, sau khi chạy chương trình cài đặt nó sẽ hỏi bạn đã kết nối internet chưa bằng tiếng anh bạn chỉ việc bấm OK cho lần hỏi đầu tiên sau đó nó sẽ hiện tên của bạn lên và hỏi có phải bạn tên đó không, nếu đúng thì bạn nhấn YES còn Không thì bạn nhấn NO sau đó tiếp tục bạn nhấn nút "Advanced Options Installation" > Proceed > Proceed > cuối cùng là nhấn nút "Yes, i do" . Rồi bạn đã cài đặt thành công.
** Hướng dẫn sử dụng TickerBar™: Sau khi cài đặt bạn sẽ thấy một biểu tượng tiền đô la màu xanh ở góc phải, dưới màn hình, bạn hãy click chuột phải vào đó và sẽ thấy một menu nhỏ và bạn rê chuột vào chữ "Restore" thì một thanh TickerBar™ sẽ xuất hiện trên cùng màn hình của bạn với các dòng chữ quảng cáo (bạn khg cần click vào nó).Khi thanh này làm việc thì đồng nghĩa "tiền đang chạy vào túi bạn". Sau một thời gian nó sẽ tự biến mất và bạn chỉ việc làm lại thao tác đó và tiền tiếp tục trôi vào túi bạn.
Cách tính tiền: Bạn giới thiệu 10 nguời bạn sẽ được 1$. (1 dô la Mỹ) 10 nguời này giới thiệu thêm 10 nguời nữa bạn sẽ được 10$ và cứ tiếp tục như thế (bạn được ăn dây chuyền, càng gửi sớm thì số người được giới thiệu sẽ tăng theo hệ số nhân)
Bạn có thể đăng nhập vào Green Horse theo đúng địa chỉ : www.greenhorse.com để kiểm tra tài khoản. Với một chút quyết tâm là bạn sẽ có một khoảng tiền khổng lồ mỗi tháng!!!
Chúc bạn may mắn! Hãy vào địa chỉ liên kết
http://tickerbar.info/join_now.ghc?r=241665824

này và thực hiện ngay nhé!!!
Cách giới thiệu người khác: Khi thực hiện đăng ký xong bạn sẽ nhận được một mail từ GreenHorse, báo cho bạn biết link để bạn giới thiệu cho người khác đến với account của bạn, giống như: http://tickerbar.info/join_now.ghc?r=241665824
Chúc các bạn đăng ký thành công và kiếm được nhiều tiền! Yên tâm đi, mình đã thử và đảm bảo không có trò lừa gạt nào cả.
Vậy bạn đừng chần chừ gì nữa, hãy vào mà đăng kí không chat chit làm gì cho mệt, làm theo tôi đi ,không có hại gì cả mà còn có tiền xài nữa (chỉ tốn mấy ngàn tiền lên mạng thôi )
CÁCH KIỂM TRA TÀI KHOẢN
Bạn có thể kiểm tra tài khoản của mình theo địa chỉ sau:
http://tickerbar.info/members/index.ghc
Mail: bạn gõ địa chỉ hòm thư của bạn vào
Pass: mật khẩu bạn đặt (không phảI là pass mở hay pass trả lờI)
- TickerBar Referral ID : mã thẻ của bạn (mỗI ngườI khi đăng nhập đều có riêng)
- Your Total Earnings (tổng số tiền bạn kiếm đựơc)
- This Years Earnings (Số tiền kiếm được trong năm)
- This Months Earnings (số tiền kiếm được trong tháng)
- Todays Earnings (số tiền kiếm được trong ngày)
- Total Amount Paid (tổng tiền (lượng) phảI trả)
- Account Balance(tổng số lượng phảI trả)
- People in your downline (số ngườI đã đăng ký thông qua bạn)
Hãy nhớ, kiếm tiền được hay không tùy thuộc vào bạn đó.... Cái gì mở
đầu cũng có khó khăn của nó, nhưng chỉ cần kiên trì lúc đầu thì sau
này bạn chỉ việc ngồi nhà , chẳng cần làm gì cả mà tiền cũng sẽ tự
tăng lên. Nếu không tôi đã ko bỏ công sức viết bài hướng dẫn này. Hãy
nhanh tay lên. Chúc bạn thành công!!!!!!!!!
thành công và kiếm được nhiều tiền! Yên tâm đi, mình đã thử và đảm bảo
không có virut, khong fai lua dao?
*Lưu ý: Bạn không được đăng ký nhiều account trên cùng một máy tính vì
như vậy bạn sẽ bị phát hiện và account của bạn cũng bị delete luôn

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2009

Cần xác minh?!?!

Cách đây ít lâu, tôi tình cờ đọc được một nghiên cứu thị trường, trong đó thể hiện rằng người Việt Nam rất tự hào là có một ly cà phê "đậm, đắng, đặc quẹo mà người nước ngoài không uống được".
Thế nhưng, họ không biết rằng niềm tự hào của họ được xây từ những điều dối trá.
Để bắt đầu, tôi có thể nói sơ lược như sau: về nguyên thuỷ thì ly cà phê thường được uống nóng. Rồi dân ta, đặc biệt dân Nam, với thói quen thưởng thức dễ dãi của mình, chuyển qua uống đá. Từ đây, loại cà phê
nguyên chất không còn được ưa chuộng nữa: trong nước đá, nó loãng ra và không đủ đắng, còn mùi hương thì bị ức chế bởi nhiệt độ thấp.
Và thế là các nhà sản xuất tìm đủ mọi cách để tăng đắng và tăng mùi hương.
Nhưng cuối cùng, Trung Nguyên đã trở thành nhà phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử chế biến cà phê Việt Nam, với việc cho thuốc ký ninh vào cà phê với liều lượng cao. Một biện pháp hết sức rẻ tiền và hiệu quả. Song
song đó, TN đã tiên phong trên con đường trộn hương nhân tạo nồng độ cao vào cà phê để tăng hương. Xét về mặt sức khoẻ, điều này cũng không hại lắm, nếu như không có mặt của một chất cầm hương, đó là gelatin.
Vốn dĩ gelatin được sản xuất từ da và xương trâu - bò, và đủ tiêu chuẩn làm thực phẩm thì rất đắt, nên TN đã sử dụng gelatin Trung Quốc làm nền cầm hương.
Và thứ này thì hiển nhiên là không dùng được cho thực phẩm, vì nó chứa rất nhiều preservatives.
Thế nhưng, những điều đó của riêng Trung Nguyên thì không có gì đáng nói. Điều đáng nói là khi ly cà phê TN được coi là tiêu chuẩn, thì tất cả các cơ sở sản xuất cà phê khác đều noi theo tấm gương sáng này, nếu không thì không bán được.
Và như thế, không ngoa khi nói rằng, TN đã đẩy ly cà phê Việt vào một ngõ cụt dối trá.
P/S: Nếu bạn không tin, cứ dùng phin pha một ly cà phê TN bằng nước lạnh, rồi nếm thử cà phê nước ấy xem có vị gì.

Ký ninh từ lâu đã được sử dụng làm tác nhân gây đắng trong thực phẩm, và với hàm lượng nhỏ thì nói chung là an toàn. Tuy nhiên, lượng ký ninh được sử dụng trong cà phê TN nói riêng và TẤT CẢ CƠ SỞ cà phê ở Việt
Nam nói chung là ở mức khoảng 0,06~0,08 g/kg thành phẩm, tức khoảng 0,0015g~ 0,002g cho mỗi phin.
Ở mức này, thì việc uống cà phê lâu dài sẽ dẫn tới triệu chứng cinchonism, tức ngộ độ ký ninh, bao gồm dị ứng trên da, ù tai, chóng mặt, giảm chức năng nghe và nhiều triệu chứng mang tính cơ hội khác.
Còn chuyện bạn hỏi về "tại sao không có ai
lên tiếng" - well, Chi cục Y tế dự phòng Đaklak biết rõ mọi chuyện này - nhưng ở Việt Nam nói chung trong mọi vấn đề đều rất khó lên tiếng, và luôn luôn có một kênh nào đó để "bịt". Cho nên, điều nhỏ nhất mà tôi nghĩ có thể làm được là tự mình không uống cà phê, và khuyến khích những người mình biết không uống cà phê.

Tôi chỉ nói những gì tôi chắc chắn hiểu rõ. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm. Và cũng hy vọng các bạn không nghĩ thế.
Nhưng về sự giả dối trong ly cà phê Việt Nam, có lẽ các bạn cần hiểu rõ hơn một chút.
So với cách uống cà phê ở phương Tây, thì ly cà phê Việt được uống theo kiểu dễ dãi: cứ mỗi phin cà phê pha ra khoảng 40 ml, được đổ vào một ly nước đá khoảng 180 ml.
Và chính nước đá mới là nguồn gốc của mọi

in reference to:

"Cách
đây ít lâu, tôi tình cờ đọc được một nghiên cứu thị trường, trong đó
thể hiện rằng người Việt Nam rất tự hào là có một ly cà phê "đậm, đắng,
đặc quẹo mà người nước ngoài không uống được".
Thế nhưng, họ không biết rằng niềm tự hào của họ được xây từ những điều dối trá.
Để
bắt đầu, tôi có thể nói sơ lược như sau: về nguyên thuỷ thì ly cà phê
thường được uống nóng. Rồi dân ta, đặc biệt dân Nam, với thói quen
thưởng thức dễ dãi của mình, chuyển qua uống đá. Từ đây, loại cà phê
nguyên chất không còn được ưa chuộng nữa: trong nước đá, nó loãng ra và
không đủ đắng, còn mùi hương thì bị ức chế bởi nhiệt độ thấp.
Và thế là các nhà sản xuất tìm đủ mọi cách để tăng đắng và tăng mùi hương.
Nhưng
cuối cùng, Trung Nguyên đã trở thành nhà phát minh vĩ đại nhất trong
lịch sử chế biến cà phê Việt Nam, với việc cho thuốc ký ninh vào cà phê
với liều lượng cao. Một biện pháp hết sức rẻ tiền và hiệu quả.
Song
song đó, TN đã tiên phong trên con đường trộn hương nhân tạo nồng độ
cao vào cà phê để tăng hương. Xét về mặt sức khoẻ, điều này cũng không
hại lắm, nếu như không có mặt của một chất cầm hương, đó là gelatin.
Vốn dĩ gelatin được sản xuất từ da và xương trâu - bò, và đủ tiêu chuẩn
làm thực phẩm thì rất đắt, nên TN đã sử dụng gelatin Trung Quốc làm nền
cầm hương.
Và thứ này thì hiển nhiên là không dùng được cho thực phẩm, vì nó chứa rất nhiều preservatives.
Thế
nhưng, những điều đó của riêng Trung Nguyên thì không có gì đáng nói.
Điều đáng nói là khi ly cà phê TN được coi là tiêu chuẩn, thì tất cả
các cơ sở sản xuất cà phê khác đều noi theo tấm gương sáng này, nếu
không thì không bán được.
Và như thế, không ngoa khi nói rằng, TN đã đẩy ly cà phê Việt vào một ngõ cụt dối trá.
P/S: Nếu bạn không tin, cứ dùng phin pha một ly cà phê TN bằng nước lạnh, rồi nếm thử cà phê nước ấy xem có vị gì. Ký
ninh từ lâu đã được sử dụng làm tác nhân gây đắng trong thực phẩm, và
với hàm lượng nhỏ thì nói chung là an toàn. Tuy nhiên, lượng ký ninh
được sử dụng trong cà phê TN nói riêng và TẤT CẢ CƠ SỞ cà phê ở Việt
Nam nói chung là ở mức khoảng 0,06~0,08 g/kg thành phẩm, tức khoảng
0,0015g~ 0,002g cho mỗi phin.
Ở mức này, thì việc uống cà phê lâu
dài sẽ dẫn tới triệu chứng cinchonism, tức ngộ độ ký ninh, bao gồm dị
ứng trên da, ù tai, chóng mặt, giảm chức năng nghe và nhiều triệu chứng
mang tính cơ hội khác.
Còn chuyện bạn hỏi về "tại sao không có ai
lên tiếng" - well, Chi cục Y tế dự phòng Đaklak biết rõ mọi chuyệnn ày
- nhưng ở Việt Nam nói chung trong mọi vấn đề đều rất khó lên tiếng, và
luôn luôn có một kênh nào đó để "bịt". Cho nên, điều nhỏ nhất mà tôi
nghĩ có thể làm được là tự mình không uống cà phê, và khuyến khích
những người mình biết không uống cà phê. Tôi chỉ nói những gì tôi chắc chắn hiểu rõ. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm. Và cũng hy vọng các bạn không nghĩ thế.
Nhưng về sự giả dối trong ly cà phê Việt Nam, có lẽ các bạn cần hiểu rõ hơn một chút.
So
với cách uống cà phê ở phương Tây, thì ly cà phê Việt được uống theo
kiểu dễ dãi: cứ mỗi phin cà phê pha ra khoảng 40 ml, được đổ vào một ly
nước đá khoảng 180 ml.
Và chính nước đá mới là nguồn gốc của mọi tai hoạ.
Một
ly cà phê nguyên chất không đủ đắng để có thể cảm nhận được vị đắng
trong chừng ấy nước đá. Nhiệt độ thấp sẽ ức chế sự bay hơi của hương cà
phê tự nhiên. Và cảm quan nó không đủ độ sánh để không bị tan loãng ra
trong chừng ấy nước đá.
Cho nên, trước Trung Nguyên từ lâu, thì cách
hoàn thiện một ly cà phê đá đã bao gồm 3 việc: tăng đắng cho cà phê,
tăng mùi hương cho cà phê, và tăng độ sánh cho cà phê.
Cách chế biến
truyền thống như sau: Để tăng đắng, người ta thường dùng hạt cau rang.
Để tăng mùi, người ta thường dùng nước mắm nhĩ. Còn để tăng độ sánh,
người ta dùng đường nấu thành caramel.
Trung Nguyên chỉ là nhà sản xuất đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất, và biến nó thành chuẩn mực "cà phê ngon" mà thôi.
Điều đáng nói nhất là khi nó đã thành chuẩn mực, thì sự giả dối nghiễm nhiên lộng giả thành chân.
Về
phía các cơ sở sản xuất, thì họ nghĩ - khi những chỉ tiêu chất lượng
quan trọng bậc nhất của cà phê - độ đắng, mùi hương, độ sánh - đều là
hàng giả, thì việc gì họ phải dùng cà phê thật làm gì?
Về phía người
uống, khi đã quen với thuốc ký ninh và đường caramel, họ mất khả năng
thưởng thức cà phê ngon thực sự. Và tôi tin chắc rằng, nếu được uống
một ly cà phê Blue Mountains hay Hawaii Kona, họ sẽ chửi thề.
Và thế
là người Việt, đa phần, đều gật gù trước một ly nước màu đen, pha từ
đậu nành hay bắp rang, trộn với caramel, hương liệu, thuốc ký ninh và
nghĩ rằng họ đang uống thứ cà phê "có văn hoá đặc biệt nhất thế giới".
Đến đây chính là một ngõ cụt - Ngõ cụt dối trá.
Câu
hỏi cuối cùng - chính xác ai phải chịu trách nhiệm cho tình trạng đó?
Sự dễ dãi của người uống? Sự xu thời của Trung Nguyên? Hay là trình độ
quản lý chất lượng thực phẩm của Nhà nước?
------
P/S: Một điểm
cuối cùng, bạn uống ly cà phê Việt, cảm thấy nôn nao, tim đập mạnh, thì
đấy có khả năng là ngộ độc ký ninh chứ không phải là do tác dụng kích
thích trí não của cà phê như bạn vẫn nghĩ."
- Coi chừng uống phải cà phê Trung Nguyên Việt Nam - Copy & Paste Forum - Những Câu Chuyện Trên Báo Chí - Tu Do VIS (view on Google Sidewiki)