Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2010

30 điều trong Tuyên ngôn Nhân Quyền ngày 10-12-1948

Ngày 10-12-1948 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mới được ra đời, trong Tuyên Ngôn này gồm có 30 điều, ngay từ điều 1 đã được ghi rằng:
Điều 1: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền hạn. Loài người là sinh vật có lý trí là lương tri, do đó phải đối xử với nhau trong tình anh em.
Điều 2: Tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, văn hóa, giới tính, tôn giáo, quan điểm, lập trường chính trị, nguồn gốc dân tộc, địa vị xã hội, hay bất cứ tiêu chuẩn gì khác, đều có quyền đòi hỏi cho mình các quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này.
Điều 3: Mỗi người đều có quyền sống, quyền tự do và quyền được bảo đảm an ninh cá nhân.
Điều 4: Không một ai có thể bị bắt giữ làm nô lệ hoặc thuộc quyền sở hữu của người khác. Mọi hình thức bắt giữ và buôn bán nô lệ đều bị cấm chỉ.
Điều 5: Không một ai có thể bị tra tấn, bị đội xử hay trừng phạt một cách tàn nhẫn vô nhân đạo hay làm mất nhân phẩm.
Điều 6: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được công nhận tư cách pháp lý tại bất cứ nơi nào.
Điều 7: Mỗi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền đòi hỏi được pháp luật bảo vệ như những người khác. Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được bảo vệ một cách bình đẳng trước mọi sự phân biệt đối xử trái với quy định trong Bản Tuyên Ngôn này.
Điều 8: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được cơ quan lập pháp sở tại bảo vệ trước mọi hành vi xâm phạm các quyền căn bản cá nhân được hiến pháp và luật pháp công nhận.
Điều 9: Không một ai có thể bị bắt bớ, giam cầm hay lưu đầy.
Điều 10: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi một toà án độc lập, chí công vô tư, xét xử công khai về quyền lợi và trách nhiệm của mình, hoặc về một lời cáo buộc mình.
Điều 11: Một người bị cáo buộc có hành vi phạm pháp vẫn được coi là vô tội cho đến khi tội trạng của người ấy được xắc định qua một phiên tòa công khai và vô tư mà người ấy đã được hưởng đầy đủ các biện hộ cần thiết.
Không một ai có thể bị kết án về một hành vi hoặc lỗi lầm mình đã phạm vào thời điểm mà luật quốc gia hoặc luật quốc tế lúc ấy chưa coi là phạm pháp.
Điều 12: Không một ai có thể bị xâm phạm vào đời tư, gia đình, nơi cư trú hay sự trao đổi thư tín, hoặc bị xúc phạm tới danh dự và uy tín. Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được luật pháp bảo vệ trước những xâm phạm và xúc phạm đó.
Điều 13: Mỗi người đều có quyền tự do di chuyển và tự do chọn lựa nơi cư trú trong lãnh thổ bất cứ một quốc gia nào. Mỗi người đều có quyền tự do ra đi hoặc trở lại bất cứ một nước nào, kể cả quê hương mình.
Điều 14: Khi bị bách hại vì lập trường hay quan điểm chính trị, mỗi người đều có quyền xin tị nạn tại một quốc gia khác. Nhưng những người bị truy nã vì tội danh không thuộc chính trị, hoặc bị truy bức vì có những hành vi trái với tôn chỉ và mục đích của Liên Hiệp Quốc thì sẽ không được hưởng quyền tị nạn chính trị này.
Điều 15: Mỗi người có quyền mang một quốc tịch. Không một ai có thể bị tước bỏ, cấm đoán hoặc cưỡng bức thay đổi quốc tịch.
Điều 16: Người nam, người nữ có khả năng kết hôn đều có quyền kết hôn và tạo lập gia đình mà không phải bị sự giới hạn nào về chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo. Cả hai được bình quyền khi kết hôn, khi sống chung và khi ly hôn.
Việc kết hôn phải dựa trên sự đồng ý và tự nguyện của các đương sự.
Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội. Gia đình có quyền đòi hỏi được xã hội và quốc gia bảo vệ.
Điều 17: Mỗi người, một mình hay chung với người khác, đều có quyền tư hữu. Không một ai có thể tước bỏ quyền tư hữu của người khác.
Điều 18: Mỗi người đều có quyền tự do về tư tưởng, lương tri và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do thay đổi tôn giáo hoặc tín ngưỡng, tự do hoạt động một mình hay cùng với người khác tại nơi công cộng hoặc ở tư gia để xiển dương hay rao giảng về tôn giáo hoặc tín ngưỡng của mình qua tổ chức nghi lễ thờ phượng hoặc sống theo giáo lý.
Điều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền tự do này bao gồm tự do phát biểu và bảo vệ ý kiến mà không bị ngăn trở; cũng như quyền tự do thu thập và truyền đạt tin tức và ý tưởng bằng mọi phương tiện và qua mọi biên giới.
Điều 20: Mọi người có quyền tự do lập đoàn thể và hội họp trong tinh thần ôn hòa. Không ai có thể bị cưỡng bách phải gia nhập một hội đoàn nào đó.
Điều 21: Mọi người đều có quyền trực tiếp, hoặc gián tiếp qua người đại diện, tham gia điều khiển sinh hoạt quốc gia. Mọi người đều được bình đẳng trong việc tham gia đảm nhận các trách vụ trong chính quyền của đất nước.
Ý dân là nền móng quyền lực của chính quyền. Ý dân phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ được tổ chức một cách nghiêm túc và công bằng, mọi cử tri đều có quyền bỏ phiếu và tự do hoàn toàn khi chọn bầu người đại diện.
Điều 22: Là một thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền đòi hỏi được bảo đảm về an sinh xã hội.
Điều 23: Mỗi người đều có quyền lao động, quyền tự do chọn nghề, quyền được làm việc trong một môi trường xứng đáng, và quyền được bảo vệ khi thất nghiệp.
Mọi người được hưởng thù lao như nhau cho những công việc giống nhau.
Điều 24: Mỗi người có quyền được nghỉ ngơi, quyền đòi hạn chế một cách hợp lý thời gian làm việc, quyền nghỉ phép một số ngày theo quy định mà vẫn hưởng lương.
Điều 25: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi để ít nhất cũng có một mức sống tối thiểu, bảo đảm về sức khoẻ và sự an vui cho gia đình và cho bản thân. Người mẹ và đứa trẻ có quyền đòi hỏi những giúp đỡ và tương trợ đặc biệt.
Điều 26: Mỗi người đều có quyền được học hành. Các cấp sơ cấp và tiểu học phải được miễn phí. Giáo dục phải có mục đích mở mang kiến thức, phát triển nhân cách và tạo ý thức tôn trọng Nhân Quyền.
Điều 27: Mỗi người đều có quyền tham gia vào sinh họat văn hóa cộng đồng, được thưởng lãm nghệ thuật và được hưởng các tiến bộ khoa học. Nếu là tác giả, mỗi người đều có quyền được bảo vệ quyền lợi vật chất và tinh thần do công trình sáng tạo hoặc tác phẩm của mình đem lại.
Điều 28: Mọi người đều có quyền đòi hỏi một môi trường quốc gia và quốc tế thuận lợi cho sự thực thi trọn vẹn các quyền hạn và quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này.
Điều 29: Mỗi người chỉ có bổn phận đối với cộng đồng nào đã giúp mình phát triển nhân phẩm một cách tự do và trọn vẹn.
Điều 30: Không một cá nhân, một tổ chức hoặc một chính quyền nào được diễn giải lệch lạc các quy định trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền này rồi tự cho mình quyền huỷ bỏ các quyền hạn và quyền tự do của một người nào đó.
Vào những thế kỷ cận đại gần chúng ta, con người mới từ từ nhận ra tầm quan trong của chính trị, của Nhân Quyền trong đời sống, nó chi phối cuộc sống con người từ A tới Z, nếu chúng ta không có quan điểm đứng đắn về vai trò này. Vì xã hội con người luôn luôn xẩy ra cảnh kẻ mạnh hiếp đáp kẻ yếu, kẻ nắm được quyền hành ức chế kẻ cô thế. Điển hình là trong các thế kỷ 18, 19 con người còn bị mua bán, người có quyền hành, có tiền bạc còn có quyền mua bán người khác làm nô lệ, làm đứa ở, làm việc nhà, làm tôi mọi cho giới giầu có, giới chủ nhân. Người có tiền và có quyền tha hồ bóc lột người làm công, làm nô lệ cho mình. Lúc đó chưa có luật lệ nào bảo vệ quyền làm người cho người nô lộ, cho giới cùng đinh trong xã hội. Nếu có luật thì lại là luật bảo vệ người quyền thế, kẻ có tiền, giới chủ nhân. Từ ngày có cao trào tranh đấu đòi quyền làm người của Mục Sư Luther King cho người da đen ở Mỹ, lúc đó việc mua bán nô lệ trên thế giới mới từ từ được chấm dứt. Khi chưa có Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền, người yếu thế da đen ở các nước Châu Phi bị mua bán ngang hàng như thú vật.
Gandhi (1869-1948) còn có tên gọi là Mahan das Karamchand, chính trị gia và triết gia Ấn Độ, người đã đề xướng phương pháp “tránh đấu bất bạo động, bất hợp tác”, đã áp dụng phương pháp ấy để tranh đấu cho nước Ấn được độc lập khỏi sự đô hộ của người Anh. Nelson Mandela đứng dậy đòi quyền bình đảng giữa người da đen và người da trắng, đòi phân chia đất đai một cách công bằng; cuộc tranh đấu bất bạo động, nhưng lâu dài, đã đem lại quyền bình đẳng cho châu Phi. Là những tấm gương làm chính trị thật trong sáng, đem lại công lý cho người bị phân biệt đối xử, cho quyền làm người.
Những tôn giáo có ảnh hưởng lớn tới nền văn minh của nhân lọai, cũng đã nhận ra tầm quan trọng của việc tham gia vào môi trường chính trị, không những đã khích lệ người tín hữu của mình phải tham gia môi trường này, mà còn viết thành văn bản để làm tài liệu hướng dẫn như trong Hiến Chế về người Tín Hữu Giáo Dân số 42 có viết:
“ Đức ái để yêu thương và phục vụ con người không được tách rời khỏi đức công lý: cả hai theo cách riêng biệt của mình đòi buộc mọi người phải hoàn toàn công nhận thực sự các quyền lợi của con người, vì xã hội với các cơ cấu và thể chế được đặt ra vì con người. Để đem đời sống Kitô hữu vào trật tự trần thế , nghĩa là đem (đem đạo vào đời) theo ý nghĩa là phục vụ con người và xã hội, các tín hữu giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia vào “Chính trị” , nghĩa là vào các hoạt động nhiều sắc thái, kinh tế, xã hội, lập pháp, hành chánh, văn hóa, có mục đích cổ võ công ích một cách có cơ chế. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nhiều lần qủa quyết điều này: mọi người và mỗi người có quyền lợi và bổn phận phải tham gia vào chính trị; việc tham gia này mang nhiều hình thức khác nhau và bổ túc cho nhau, trên nhiều mức độ khác nhau cũng như trong các bổn phận và trách nhiệm khác nhau. Chúng ta thường nghe những nhà cầm quyền, quốc hội, giai cấp cai trị và các đảng phái chính trị bị tố cáo là những kẻ lợi dụng thời cơ, thờ lạy quyền bính, ích kỷ tham nhũng; rồi chúng ta cũng thấy dư luận quần chúng đó đây bảo chính trị chỉ là nơi vô luân lý; tất cả lời khinh khi này không cách nào bào chữa được cho người công giáo trốn tránh chính trị, nghi ngờ việc chung”.
Từ Hiến Chế này đã dần dần đưa đến việc thiết lập Văn Phòng Công Lý và Hòa Bình, rồi từ văn phòng này được nâng lên thành như một cấp Bộ tại Giáo Triều ở Roma, và ngày nay đã lan toả ra khắp thế giới. Tại quốc gia nào có người Công gíáo, có Hội Đồng Giám Mục là có một vị Giám Mục được chỉ định phụ trách Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình. Việt Nam là một nước Cộng Sản, trong kỳ Họp Đại Hội từ 04 đến 08/10/2010 của HĐGMVN cũng đã cử Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, GM. Địa phận Vinh phụ trách Ủy Ban này. Dù có trễ cũng còn hơn không, vì nơi đâu chưa có Công Lý, còn bất công thì ở đó chưa có Hòa Bình. Đây là những việc làm cụ thể của các tôn giáo lớn, có ảnh hưởng đến nhân loại quan tâm đến vai trò chính trị trong cuộc sống của con người.

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

Những hình ảnh phối hợp tiêu hủy cột mốc biên giới Thời kỳ Pháp – Thanh


Diễn Tiến Sự Kiện Thủ Tiêu Cột Mốc Biên Giới TRUNG VIỆT

Nhận thấy dư luận rất quan tâm về sự kiện thủ tiêu các cột mốc (cũ) phân chia biên giới Trung-Việt, là người đã đăng tải sự kiện kèm theo các hình ảnh đầu tiên trong bài viết “Từ lễ tế Mã Viện đến ngày Đảng CSVN cho Hai Bà Trưng mặc váy” (chuyên mục “Chuyện Phải Nói” của Diễn Đàn TGNV ngày 14.11.2010), Chân Mây sẽ trình bày rõ ràng hơn để giải tỏa các thắc mắc và ngờ vực về tính xác thực của sự kiện này.

Những gì đang xảy ra…

Mốc 18 trên Ải Nam Quan mà Đảng CSVN đã bịa đặt nên câu chuyện bị Trung Cộng cho xe tăng ủi nát trong chiến tranh biên giới. Thực tế hình ảnh này cho biết mốc 18 vẫn còn tồn tại trong tấm ảnh chụp của quân Trung Cộng năm 1988


Mốc 19 tại Hà Giang (khu vực núi Đất, tức Lão Sơn) với sự chiếm giữ củaquân đội Trung Cộng năm 1980.

Lãnh thổ bị chiếm đoạt nhưng Đảng CSVN và lực lượng “Quân Đội VN Anh Hùng” đã không dám kháng cự và năn nỉ qua nhiều năm xin đi vào đàm phán.

Năm 1993, hai bên chính phủ CS Trung-Việt bắt đầu đi vào đàm phán các vùng “tranh chấp”. Đến ngày 30.12.1999, hai bên Trung-Việt hoàn thành 16 lần đàm phán và cho ra kết quả là bộ văn bản “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” (中越陆地边界条约). Một phần nội dung “nổi” của văn bản này cho biết rằng có 227Km2 diện tích “tranh chấp” trên dường biên giới Trung-Việt được giải quyết sau đàm phán là …chia đôi: 113Km2 thuộc Việt Nam, 114Km2 thuộc Trung Quốc.

Không khác gì văn bản dâng lãnh hải cho Trung Cộng của Phạm Văn Đồng vào năm 1953, những văn bản giải quyết đường biên giới lục địa Trung- Việt của Đảng CSVN là một trong nhiều vết dơ nhục nhã của Đảng CSVN chàm khắc lên tổ quốc của người Việt Nam và họ, những người người lãnh đạo Đảng CSVN, với kết quả giải quyết tranh chấp đường biên giới như trên vẫn vui mừng đặt thành “thắng lợi”.Khi bộ văn bản “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” hoàn thành, hai bên Trung-Việt tiếp tục đi vào công tác giải tỏa các khu vực gài mìn, tức là những vùng đất biên giới trên lãnh thổ Việt Nam. Một cách tự nhiên, những vùng trong qui hoạch gỡ mìn được dựng bảng bằng tiếng Trung và người dân trong khu vực trở thành công dân Trung Quốc.


Lực lượng công binh Trung Cộng đi vào lãnh thổ Việt Nam (Hà Giang) năm 2002 thực hiện chiến dịch gỡ mìn với sự đón chào niềm nở của Quân Đội NDVN Anh Hùng. Các chữ Trung văn trên đầu xe tải có thể đọc được là: “Vi Nhân Dân Bài Lôi…” (gỡ mìn cho nhân dân…). Nhân dân nào đây?

Các khu tử thần trên núi đồi Việt Nam (vùng Hà Giang) và vô số nạn nhân nay đang được chính phủ Trung Quốc bảo hộ.Lý Văn Vật Hu“Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” đặt ra 1537 tọa cột mốc biên giới cần thiết lập trên 1347 Km tuyến biên giới Trung-Việt. Vào tháng 9 năm 2002, Cục Đo Đạc Quốc Gia Trung Quốc phái 39 nhân viên kỹ thuật thường trú đến 12 tọa điểm biên giới kết hợp với công binh chính quyền Vân Nam, Quảng Tây và chính phủ CS Việt Nam thực hiện công tác gỡ mìn. Tháng 11 năm 2005 sơ bộ hoàn thành, đến năm 2008 thì tuyên bố hoàn thành công tác gỡ mìn, phân giới, cắm mốc. Ngày 23.2.2009 đặt thành Lễ Hoàn Thành Phân Giới Cột Mốc Trung Việt (Chân Mây đã đưa tin qua bài “Đại Lễ Dâng Ải Nam Quan Cho Trung Cộng”).Tuy nhiên những điều đó chưa phải là chấm dứt. Vào ngày 14.07.2010, phía Trung Cộng tuyên bố các văn kiện phát sinh hiệu lực là “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Khám Giới Nghị Định Thư” (中越陆地边界勘界议定书), “Trung Việt Biên Giới Quản Lý Chế Độ Hiệp Định” (中越陆地边界管理制度协定), và “Trung Việt Biên Cảnh Khẩu Ngạn Cập Kỳ Quản Lý Chế Độ Hiệp Định” (中越边境口岸及其管理制度协定). Theo nội dung pháp luật yêu cầu trong nội dung các văn kiện, thì việc trước hết là phải tiến hành bài trừ ngay tất cả các cột mốc cựu thời. Phía Trung Cộng phát lệnh bài trừ các cột mốc cũ bắt đầu tại đoạn Vân Nam, Hà Khẩu vào ngày 20.07.2010, tại đoạn này có tất cả 22 cột mốc đã được bài trừ, hiện tại được biết có các cột 15, 17, 21 đã mang vào lưu trữ vĩnh viễn tại Phòng Quảnyện Hà Khẩu (河口县文物管理所), số còn lại chuyển lên trung ương quản lý. Căn cứ theo tài liệu “Trung Pháp Điều Ước”, 22 cột mốc quốc giới Việt Nam-Trung Hoa tại đoạn Vân Nam được xây dựng trong 12 năm, từ tháng 8 năm 1885 cho đến tháng 6 năm 1897. Khi Trung Cộng tiến hành bài trừ, trên các cột mốc này vẫn còn rõ các chữ “Trung Hoa” và “An Nam”.Tiếp theo đoạn Vân Nam, vào ngày 10.08.2010 tỉnh Quảng Tây tuyên bố đã hoàn thành sứ mệnh bài trừ 33 cột mốc cũ, một nữa số do các địa phương sở hữu bảo tồn, nữa số còn lại phân chia vào quản lý tại Bảo Tàng Quốc Gia Trung Quốc (中国国家博物馆) và Bảo Tàng Quảng Tây (广西博物馆)Hàng trăm trang mạng, báo đài Trung Cộng đang truyền tải sự kiện, nhưng bên Việt Nam thì không ai được biết đến. Vì sao? Không cột mốc cũ nào còn nằm trên lãnh thổ Việt Nam! Đây chính là những chứng cứ không thể chối cãi cho việc mất đất ở biên giới, lãnh thổ bị xâm phạm, mất chủ quyền hàng chục năm và sự đê tiện của Đảng CSVN khi họ vẫn tươi cười bất chấp dư luận!Chân Mây đã lên diễn đàn Trung Cộng thăm dò và nhận các câu trả lời như sau:Hỏi: Ni Hao! Có thể cho tôi biết tại sao Chính Phủ Trung Quốc phải loại trừ các bia giới cũ vùng biên giới Trung-Việt?Đáp: Tồn tại các bia giới cũ là điều không thể chấp nhận được.Hỏi: Bia giới cũ vẫn còn giá trị lịch sử chứ!Đáp: Việt Nam cũng như Triều Tiên là phiên thuộc của Trung Quốc từ thời xưa, các bia giới không có giá trị. Ngay cả các cột mốc hiện tại cũng không có ý nghĩa phân chia quốc giới.…Không như cách trả lời thô thiển của tên Trung Cộng này. Một thực tế man rợ là Đảng CSVN cấu kết với Trung Cộng nhằm xóa mọi dấu tích của đường biên giới cũ!Tập hợp rất nhiều hình ảnh thu thập từ các trang thông tin, diễn đàn của Trung Cộng sau đây sẽ làm rõ hơn vấn đề. Những hình ảnh có ghi rõ địa chỉ cần tham khảo, tuy nhiên nếu bạn đọc cần thêm chi tiết xin vui lòng dán các chữ Trung Văn sau lên Google để kiểm chứng:- 中越拆除陆地边界旧界碑工作正式启动 (Trung Việt Sách Trừ Lục Địa Biên Giới Cựu Giới Bài Công Tác Chính Thức Khải Động: Trung Việt chính thức khởi động công tác tháo bỏ mốc bia giới biên giới đất liền)- 中国云南河口县辖区内的旧界碑开始拆除 (Trung Quốc Vân Nam Hà Khẩu Huyện Hạt Khu Nội Đích Cựu Giới Bài Khai Thủy Sách Trừ: Bắt đầu tháo bỏ bia giới cũ trong địa hạt huyện Hà Khẩu, Vân Nam Trung Quốc).- 中越边界拆除旧界碑 (Trung Việt Biên Giới Sách Trừ Cựu Giới Bài)- Hoặc tham khảo hình ảnh nhiều nhất tại diễn đàn sau (truyền tải từ ngày 03.11.2010): hongdou.gxnews.com.cn/viewthread-5538500.html


Mốc 15 tại Hà Giang


Mốc 17 tại Vân Nam (Hà Khẩu)-Hà Giang

Mốc 17 tại Vân Nam (Hà Khẩu)-Hà Giang


Tân Kinh Báo” (Quảng Tây) đưa tin tức ngày 13.08.2010

Tân Kinh Báo” (Quảng Tây) đưa tin tức ngày 13.08.2010

Ảnh tham khảo: “Nhất xứ tam bài” (một nơi có 3 cột mốc) là hiện tượng sau các đợt đặt mốc quốc giới của hai bên Chính phủ CS Trung-Việt. Hình trên là giao giới Trung-Việt tại khu vực Đông Hưng, bờ bên kia sông là mốc mới của quốc giới Việt Nam (mốc 1325). Trên mỗi cột mốc xưa đều chia ra một mặt là Việt Nam, một mặt là Trung Quốc. Tình trạng của mốc mới tạo nên vùng đệm và rõ ràng lãnh thổ Việt Nam đã nằm ngoài đường biên giới xưa.


Biên dân Việt Nam tham gia bài trừ cột mốc dược Trung Cộng gọi trìu mến là “đồng bào tôi ơi!”.


Mốc giới mới (1050) và cũ “Trung Việt Quốc Giới, Khang Anh Ngoại Sách Số 5″ trên đỉnh Bình Cương Lĩnh nay thuộc Quảng Tây. Có cả mốc cũ bị đập bỏ!


Tiêu mốc số 18 đoạn Quảng Tây-Việt Nam vẫn còn rõ hai mặt chữ”Đại Nam”, “Đại Thanh” và năm tạo lập là 1893


Mốc “Đại Nam Quốc Giới” tại Phòng Thành-Quảng Tây


Khu vực Quảng Tây: Có cái bị đập vụn, có cái bị chôn dưới đất nhờ dân địa phương chỉ điểm để đào lên. Trơ trọi chiếc lõi cột mốc trăm năm!


Việt Nam tham gia khuân vác cột mốc quốc giới dâng cho Trung Cộng

Đưa lên xe tải phi tang!Xin quý dộc giã zuy trì dễ làm tài liệu lịch sữ.
———————————————————————————————————————————————————————————————————-

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

Xem lai...

Trang VietnamNet khi bị tấn công

Tin tặc tiếp tục tấn công một trong các báo điện tử hàng đầu Việt Nam, VietnamNet, và đưa ra nhiều cáo buộc.

(Bài này đã bị gỡ xuống sau khi đăng)

Phần I: Cái sẩy nảy cái ung

1. Ai đã đánh sập VNN, “người lạ” hay “người quen”?

TBT Nguyễn Anh Tuấn khẳng định: “không có tranh chấp nội bộ”, rất tiếc là phát biểu này chỉ đúng được 1%. Sự thật trần trụi là VNN bị đánh sập hai lần đều do tranh chấp “một mất một còn” của phe kháng chiến là Phòng Kỹ thuật Điều hành-VNN do Nguyễn Đoàn Trọng Hiếu (tự Hiếu SYS,01234566689) lãnh đạo và phe xâm lược vốn là một “người quen” là Trung tâm Giải pháp và Phần mềm vSolutions-VASC do Nguyễn Xuân Trường (tự Trường hói,0903250112) làm thủ lĩnh.

Ai cũng biết trước đây cả VNN và vSolutions (VOS) đều thuộc VASC do Nguyễn Anh Tuấn (Tuấn tổng) làm GĐ. Sau khi VNN bị về Bộ 4T, đã xảy ra nhiều tấn bi hài kịch ảnh hưởng đến số phận hàng trăm con người mà kết quả là Tuấn tổng ra đi mang theo VNN, còn VASC thì ở lại VNPT với sự lãnh đạo của “ngôi sao mới nổi” Nguyễn Văn Hải (Hải đôla) mà chúng tôi sẽ “leaks” trong hồi sau.

Mục tiêu tranh giành của phe Trường hói và phe Hiếu SYS là quyền được cung cấp phần mềm cho VNN (hệ thống CMS) đang mang lại doanh số trực tiếp hàng chục tỷ đồng mỗi năm và uy tín thương hiệu lớn (phần mềm đang được tòa soạn báo điện tử lớn nhất Việt Nam sử dụng) có thể dẫn đến nhiều hợp đồng trị giá nhiều chục tỷ đồng khác. Nhờ uy tín này, phe Hói đã ký được hợp đồng với hàng loạt khách hàng khác. Nhưng thời gian gần đây, Tuấn tổng chỉ đạo Hiếu SYS khởi động dự án phần mềm CMS của riêng VNN (gọi là V-CMS), và dự án này do nhân vật “đốt đền” Dương Hải Phong làm leader. Dự án này đã hoàn thành và VNN chuẩn bị đưa vào khai thác thì xảy ra hàng loạt vụ việc kỳ bí như VNN bị sập 2 lần trong một tháng, có đơn tố cáo VNN vi phạm bản quyền hàng chục triệu USD.

2. Ai đánh VNN lần thứ nhất ?

CMS VNN đã làm xong, làm thế nào để hất cẳng vSolutions? Câu trả lời là một “nhóm bí ẩn” đã tấn công VNN ngay từ bên trong vào ngày 7/11/2010, đợt tấn công này làm thịt hơn nửa số máy chủ của VNN, tiễn toàn bộ dữ liệu nội bộ của VNN lên đường và làm VNN bất ngờ chao đảo. Nguyên nhân được xác định là do phần mềm CMS của vSolutions không an toàn và do VNN sử dụng phần mềm chùa của Oracle nên không được vá lỗi dẫn đến thủng tứ tung từ bên trong. Tuấn tổng đã “tự bóp trym” để có lý do chính đáng ra quyết định ngưng sử dụng CMS của vSolutions.

Nhưng Hói đâu dễ chơi thế!!! Đạo một thước thì ma phải một thước rưỡi.

3. Ai đánh VNN lần thứ hai?

3h sáng ngày 22/11/2010 đợt tấn công trả đũa khủng khiếp đã giáng xuống đầu VNN. Toàn bộ máy chủ và dữ liệu bị xoá sạch sẽ, không thể khôi phục! Sau 10 năm hoạt động, VNN gần như chính thức trở về Zero dữ liệu. Trên [Để xem được đường dẫn này, bạn vui lòng đăng nhập] chỉ còn vẻn vẹn tin bài của hơn 1 tháng hoạt động và VNN từ chao đảo chính thức lâm vào khủng hoảng tứ bề. Toàn bộ hoạt động của VNN bị đình trệ, khách hàng khiếu kiện, nghi kỵ, nội bộ tan nát, bạn đọc nản lòng và… bị tố cáo vi phạm bản quyền!

Thiên hạ không hiểu, chỉ Tuấn tổng-Trường hói-Hiếu SYS hiểu rõ: Nội chiến đã bắt đầu! Lần này đến lượt Hói dùng 2 chiêu: Một đường “tự bóp trym” ăn vạ (tự tấn công vào máy chủ phục vụ cho khách hàng như: Báo Khánh Hoà, Báo Hải Phòng, Đà Nẵng,…) và cả website vSolutions. Đường khác, tấn công đánh sập hệ thống, xóa sạch dữ liệu VNN và nhanh tay sao lưu trước toàn bộ dữ liệu của VNN làm con tin để dễ bề đổi chác. Với con tin này, Hói nghĩ, Tuấn tổng buộc phải ngậm ngùi gác lại dự án hàng tỷ đồng V-CMS do Dương Hải Phong chủ trì và cam chịu quay vào vòng cương toả của vSolutions.

Trong một tình huống bất ngờ, Tuấn tổng đã cao mưu dùng kế khổ nhục là sa thải Hiếu SYS và sẽ tạm dùng vSolutions trong 6 tháng để cứu “con tin” dữ liệu, sau đó phế bỏ vSolutions để thênh thang kiếm bạc trên con đường mới!?

Bị đẩy ra đường, phe thân Hiếu SYS phải làm gì đây trong hoàn cảnh này?

4. Ai gửi đơn khiếu kiện VNN?

Ngược thời gian và tìm hiểu một chút về lịch sử sử dụng “phần mềm lậu” của VNN thì sẽ hiểu hơn về mức độ nguy hiểm của lá đơn tố cáo này. Sự thật là VNN đã sử dụng phần mềm lậu hơn 10 năm qua và vẫn phải đang tiếp tục sử dụng phần mềm lậu. Bị thiệt hại nặng nhất có lẽ là Oracle. Phần mềm CMC của vSolutions sử dụng Oracle khắp nơi: Oracle Webcache, Oracle Application Server, Oracle Database,…. Không phải tự nhiên mà lão Larry Ellison có tiền mua du thuyền 200 triệu USD, phần mềm của lão cực tốt và cực đắt. Oracle tính bản quyền dựa trên số lượng CPU có trên server chạy phần mềm, trung bình khoảng 50.000 USD cho một CPU/1 năm. Mà VNN thì thôi rồi … có trên 30 con chủ Sun, con bé thì 4 CPU, con to thì 16 CPU. Tính trung bình 8CPU/máy chủ thôi thì VNN đã sử dụng khoảng 240 CPU/năm. Tính sơ sơ, 240 CPU x 50,000 USD = 12 triệu USD/năm. Hix … không đủ can đảm tính tiếp! Ấy là chưa nói đến phần mềm Microsoft Windows, Microsoft Office, Microsoft Visual Studio .NET, Microsoft SQL Server 2008, Lạc Việt từ điển,… mà VNN đã dùng chùa vô tội vạ.

Sau vụ việc, Tuấn tổng chắc phải vất vả xử lý để bịt miệng Oracle, Microsoft,…? Giờ mà có đoàn kiểm tra liên ngành vào VNN sẽ thấy một điều kỳ lạ là toàn bộ máy tính của toà soạn đều vừa cài lại sau ngày 22/11/2010 và đều dùng bản Windows dùng thử 3 tháng hết hạn một lần!

Windows còn che được như thế, nhưng Oracle thì làm sao che được đây ? ([Để xem được đường dẫn này, bạn vui lòng đăng nhập])

Biết rõ tử huyệt này nên các tuyên bố của VNN trên báo chí đều rất rụt rè: “đã tiến hành mua phần mềm có bản quyền về cơ sở dữ liệu” (Chỉ có phần mềm cơ sở dữ liệu thôi sao ? Mua cách đây mấy năm rồi ?), “cũng có trao đổi thỏa thuận với các hãng cung cấp phần mềm máy chủ về cung cấp dịch vụ bản quyền” (Mới trao đổi sau khi bị tố cáo!). Riêng Tuấn tổng thì tuyệt nhiên “quên hẳn” chuyện bản quyền! Đây là điều Tuấn tổng lo ngay ngáy và tìm cách dìm bằng được.

Điều đáng buồn là, không có vụ bắt vi phạm bản quyền nào của những doanh nghiệp Việt Nam đang còn khó khăn mà Tuấn tổng không chỉ đạo VNN đánh cho tơi tả để thể hiện vai trò lá cờ đầu của VNN trong chống nạn vi phạm bản quyền?!

Quay lại động cơ vụ đơn tố cáo vi phạm bản quyền. Mục tiêu của đơn này là ngăn chặn việc quay lại của vSolutions. Do CMS của vSolutions cũng dùng Oracle như VNN!!! Mà đang bị tố cáo vi phạm bản quyền thì làm sao dám dùng! Chắc hiện giờ vSolutions đang rất nỗ lực thương lượng mua bản quyền Oracle vì VNN đang ở thế kẹt không thể mở miệng với Oracle. Lão Larry Ellison phen này vớ bở!

Tóm lại tất cả những gì VNN và TBT Nguyễn Anh Tuấn tuyên bố đến giờ đều không đúng sự thật. Là một cơ quan truyền thông VNN nên có những phản ứng trung thực và dũng cảm ngay bây giờ (dù muộn nhưng vẫn còn kịp). Chúng tôi sẽ chờ đợi những hành động cầu thị từ phía TBT Nguyễn Anh Tuấn trước khi công bố những thông tin tiếp theo.

Phần tiếp theo

1. Giám đốc VASC, Nguyễn Văn Hải đã chỉ đạo những gì?

2. Những bí mật từ số liệu tài chính, email nội bộ của VietNamNet và những phía liên quan trong 10 năm qua, tiền từ đâu đến và đi đến đâu?

3. Vì sao “công thần” Nguyễn Đoàn Trọng Hiếu được TBT Nguyễn Anh Tuấn cho ra đường như thế nào sau 10 năm cống hiến sau vụ VNN?

4. Wikileaks sẽ cho biết bóng ma nào đang đứng sau VietNamNet và TBT Nguyễn Anh Tuấn?

5. Vụ InnovGreen tố cáo VNN thực hư thế nào?

T.H.K – D.H.P

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Suy niệm!

Nếu quả thật Giáo Hội thực hiện cuộc lữ hành giữa những cơn bách hại do thế gian gây ra và trong niềm an ủi do Thiên Chúa ban tặng, điều đã thực sự xảy ra trong hai mươi thế kỷ lịch sử Giáo Hội và trong cả hai giai đoạn hiện diện của anh em Phan sinh trên đất Việt, thì chúng tôi tin, nghĩa là thấy bằng cách nhìn trong ánh sáng đức tin, rằng: một liều lượng bách hại và nghèo khó nào đó do Thiên Chúa ấn định phải được kể như ân huệ của Ngài gửi đến nhằm mưu ích cho chính Giáo Hội (x. hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 44), trước tiên vì hoàn cảnh đó tạo sự tỉnh táo cho Dân Chúa để cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ…(x. Mc 14,38) – mà cám dỗ thì luôn đa dạng và mãnh liệt: giàu có, hưởng thụ, danh vọng, quyền lực…,v.v….; và tỉnh táo để dấn thân xây dựng những giá trị cơ bản của Phúc Âm là Công lý, Hoà bình, tôn trọng Sự thậtNhân phẩm...; còn đối với anh em Phan sinh, ân huệ ấy tạo nên thứ đất mùn màu nâu được chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận dấu ấn đặc thù của đoàn sủng Phan sinh là sống thân phận lữ hành trong tinh thần hèn mọn. Đó là con đường thánh Phanxicô đã chọn – mà thực ra chính Chúa Kitô đã chọn trước ngài -- để làm máng chuyển phúc lành và niềm an ủi của Thiên Chúa, Chúa tể của Lịch sử, đến cho Giáo Hội và thế giới.

Phi Khanh Vương Đình Khởi, ofm
Học Viện Phanxicô Thủ Đức ngày 09-09-09


Thứ Ba, 23 tháng 11, 2010

13 câu hỏi của Nguyễn Đắc Hải Di – Joyce Anne Nguyen

  1. Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ hoàn toàn không quan tâm đến nhân dân?
  2. Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không cho phép nhân dân biểu tình hoặc chỉ đơn giản là cất tiếng nói?
  3. Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ gạt ngang không đếm xỉa đến bản kiến nghị phản đối 1 dự án gây tác hại trầm trọng đến môi trường, sự sống và cả an ninh lãnh thổ đất nước?
  4. Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ chặn Blog, chặn Website?
  5. Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi dân oan khiếu kiện, họ không bao giờ giải quyết?
  6. Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không đầu tư công sức vào nền giáo dục, tiếp tục những trò cải cách chạy vòng quanh không cần thiết, bằng cách lấy kiến thức năm này đắp vào năm khác và quay vòng?
  7. Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không giải quyết vấn đề tham nhũng trầm trọng và giải thích Việt Nam không phải là nước tham nhũng nhất thế giới và quốc gia nào cũng có?
  8. Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không màng đến vấn đề giao thông, để hàng chục ngàn người chết mỗi năm, và phần lớn vì đường sá chật chội, đầy ‘lô cốt’, kém chất lượng và gây ra nhiều cái chết phi lý?
  9. Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ xem nhân dân là con cái không được phép cãi lời và ‘hàng xóm’ không cần can thiệp?
  10. Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ lên nắm quyền khi nhân dân không biết họ là ai để bàu cho họ?
  11. Họ là những người lãnh đạo như thế nào mà họ dù làm bất cứ điều gì, vẫn tiếp tục giữ cái ghế của mình?
  12. Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ e ngại mọi sự so sánh và kết luận đó là vọng ngoại và phản quốc?
  13. Họ là những người lãnh đạo như thế nào khi họ không dám nhìn thẳng vào khuyết điểm và huyễn hoặc nhân dân rằng mọi đất nước có vấn đề riêng và đất nước ta đang ngày càng tiến bộ?

Thứ Bảy, 13 tháng 11, 2010

Manager

Tim manager sao kho qua???
Da phong van bao nhieu nguoi roi ma den nay van chua chon duoc ai.

Thứ Tư, 10 tháng 11, 2010

Sưu tầm

SƯU TẦM...

Cuộc tình qua những lá thư….

Thư của bồ nhí gửi cho bà vợ già :

Dù chúng ta có vô cùng xung khắc, chúng ta vẫn phải nhất trí một điểm :
Chồng bà là đàn ông. Mà đàn ông thì sao ? Đàn ông thì ham thích nhiều thứ. Họ thích đến mãnh liệt. Và bà đừng giấu em, bà hảy công nhận rằng, phụ nữ chúng ta yêu đàn ông vì họ ham thích và biết cách thực hiện nó. (Chúng ta cũng ham thích nhưng thực hiện chủ yếu bằng cách mua nó.) Ông thì thích máy móc, ông thì thích kiến trúc, ông thích vật lý và hóa học, ông dại hơn một chút thì thích thơ văn. Toàn những ham thích có lợi cho xã hội.
Nhưng dàn ông không chỉ ham thích một thứ. Nếu gà chỉ thích giun, bò chỉ thích cỏ tươi hay thỏ chỉ thích củ cải thì đàn ông lại thích đa dạng. Chuyện ấy trong bóng đá, trong ẩm thực, trong bia bọt không sao, nhưng trong vấn đề phụ nữ, tính đa dạng của nó làm cuộc sống thêm rắc rối.

Bà thân mến,
Em tin rằng, bà có rất nhiều ưu điểm. Sở dĩ em quen với ông ta là do ông ấy thông minh (chứ không phải chỉ có tiền như thiên hạ vẫn đồn). Và một người thông minh không bao giờ chọn vợ quá kém. Thậm chí, bà không quá kém, bà còn nổi bật ở nhiều phương diện.
Theo ông tiết lộ một cách đầy thành kính, bà nấu ăn ngon, bà rửa bát sạch, bà lau nhà bóng và đi chợ rẻ. Bà còn đsi xử tốt với chó mèo… Em xin thú thật, các phương diện đó, em đều thua bà. Khi em nấu món canh, ai cũng nghĩ là món xào. Khi em rửa bát, tốt nhất lúc dùng nên rửa lại. Khi em lau nhà hay quét nhà, em để cái đống rác chổ nọ chổ kia. Chợ duy nhất em đi là chợ mỹ phẩm. Còn chó mèo, em chỉ nuôi chúng trong tranh.
Nhưng ông vẫn thích em. Tiện đây xin tiết lộ: thời gian thích không hề ngắn, cường độ thích không hề yếu và chi phí thích không hề thấp.
Bà kinh ngạc. Bà không tin ư? Bà nhớ rõ ông vẫn về nhà, vẫn ăn cơm tối, vẫn lịch sự với bà, v.v… Bà cảm giác chẳng có khe hở nào để em lọt vô cái pháo đài do bà xây dựng, canh gác và tuần tra.
Em xin phép không đi vào chi tiết. Em chỉ nói một cách văn học rằng, không có gì ngăn cản được con tim. Nhất là con tim già lao vào một con tim trẻ. Như đã nói em thua bà về một tỷ thứ. Đúng một tỷ thứ, chả bớt phần nào. Nhưng em lại hơn bà hai tỷ.
Bà sẽ gầm lên, Bà sẽ quát lên: Hơn ở chổ nào?
Thưa bà, những thứ em hơn lại vô cùng vớ vẫn. Em thành thật tin thế. Nhưng đàn ông, tiếc thay, lại không tin.
Em biết chớp mắt. Em biết ngồi gần ông mà lại vẹo người. Em biết đánh vào lưng ông, hay đánh ở chổ thấp hơn, vừa đánh vừa cong môi nhìn đi chổ khác. Em biết hét lên khi thấy con sâu và ù té chạy khi gặp con thằn lằn.
Cái gì em cũng ngạc nhiên và nhờ ông giải thích. Em tin ông là vô địch về tri thức, về thể thao, và luôn thể hiện lòng tin ấy ra mồm. Mỗi lời nói của ông, với em, đều là chân lý. Em khâm phục khi ông uống bia. Em kiêu hảnh khi ông châm thuốc lá. Em ngồi nép mình khi ông tụ tập. Em lo lắng nhưng chẳng bao giờ tra hỏi lúc ông đi khuya. Và, quan trọng nhất, thưa bà, da em trắng, eo em nhỏ, môi em đỏ và chân em chả khác chân dài. Em mặc vấy hồng, em thắt nơ xanh và em dùng dầu thơm của Pháp. Nước Pháp, chắc bà cũng biết, vô địch về các loại dầu thơm.
Khi ở bên ông,em không ngóc và không tham lam như các phim truyền hình quay vội vàng mà bà vẫn xem đâu ạ. Chúng em không hề bàn về tiền bạc. Hai người đều mơ tới ánh trăng, tới những khát vọng chưa thực hiện và đều thích nhìn sao trên trời. Hai người có thể xung đột về một bài thơ, giận dỗi về một bức tranh và bỏ ra về vì một bông hoa bày không đúng cách (trong khi ông và bà giận dỗi vì một mâm cơm, cãi nhau vì hóa đơn tiền điện và ra khỏi nhà vì chậu quần áo chưa phơi).
Đấy, em tới ông, ông tới em là như thế đấy. Nó thanh cao thì em không dám nói, nhưng nó cũng chẳng phàm tục như sách vụ án viết đâu. Em xin bà hảy mừng vì điều đó.
Tuy ông phạm tội nhưng tội ấy còn sang. Bà hảy tự an ủi như thế. Tại sao em viết thư này? Tại vì em xin trả lại ông cho bà. Chúng em nhất trí cái gì đẹp là phải ngắn và chúng em đã ngắn đủ dài. Toàn bộ sự tinh tế của tình yêu nằm ở chổ này, và bà không biết được.
Xin bà hảy dang tay đón ông về. Em lấy danh dự thề rằng, ông không sứt mẻ quá nhiều, đơn giản vì ông có nhiều đâu mà sứt mẻ. Bà hảy coi ông như vừa sau chuyến du lịch mạo hiễm trở lại nhà. Cần che chở và sẳn sàng che chở.
Em đi đây. Cuộc sống là khám phá và em thích khám phá nhiều nơi. Bà đừng trách em. Bà cũng đừng tự trách mình. Khi em bằng tuổi bà, em cũng chả hơn gì bà đâu.
Chúc bà vui khỏe

Thư phúc đáp của bà vợ gửi cho bồ nhí !!!
Thưa cô,
Tôi đã đọc thư của cô một cách bình tỉnh. Đúng như cô đã nói, ở tuổi tôi và ở địa vị của tôi, sự bình tỉnh luôn luôn có thừa.
Này cô,
Việc chồng có bồ nhí khiến toi ngạc nhiên. Đó là cảm giác đầu tiên, và thành thật với cô, nó hơn cả cảm giác căm phẩn.
Vì sao vây?
Thưa cô, vì tôi tin chắc rằng lão (hảy gọi sự vật với đúng tên và đúng tuổi của chúng, cô nhỉ) đã đuối sức rồi, nói một cách chắc chắn, một cách không có gì phải bàn cãi cả.
Khi viết thư cho tôi, cô có vẻ tự đắc pha chút hả hê. Cô có cảm giác thấy mình giật được từ tay bà khác một mỏ vàng, và mình có những phẩm chất khác thường nên mới gặp may như thế.
Cô nhầm thảm hại quá cô ơi!
Quả thật lão là một cái mỏ. Hay nói chính xác hơn, đã từng là cái mỏ. Điều ấy cách đây ba mươi năm về trước, cả thành phố đều phải công nhận chứ đâu cần phải một cô gái có trí tuệ siêu việt gì.
Nhưng trên trong và dưới cái mỏ ấy, tôi đã đào, đã cuốc, đã đẻo, đã nổ mìn khai thác rầm rộ, quy mô mấy chục năm. Và giờ đay, mỏ chỉ còn khung, còn lại sự hoang tàn.Chỉ có đôi mắt ngốc của cô, chỉ có đôi môi dại của cô và chỉ có một tí não khờ khạo của cô mới không nhận ra điều đó.
Cô vớ được lão, khi tôi trong một chừng mực nào đó, đã mắc cho lão tự do. Cho lão có cảm giác sổng chuồng. Đàn ông sống bằng ảo tưởng cô ạ, và nuôi dưỡng cái ảo tưởng đó một cách khéo léo là nhiệm vụ của phụ nữ chúng ta.
Tôi không vui khi lão có bồ. Nhưng chớ nói rằng tôi hoảng sợ vì điều đó. Tôi quá hiểu đứa khác sẽ được bao nhiêu trong khi mình đã vớ được bao nhiêu. Phần của cô, hởi ôi, thật là thảm hại.
Cô khéo là ngây thơ và nhí nhảnh. Cô té xỉu khi gặp thằn lằn và ngã lăn khi gặp tắc kè. Dạ thưa cô, khi bằng tuổi cô, tôi cũng ngây thơ như thế. Nhưng lúc này, gặp hai của đấy, tôi chỉ đập một cái cho bẹp đi là xong.
Rồi cô khoe là cô biết chớp mắt, biết ngã đầu và biết cười he hé nghiêng nghiêng. Ôi dào, những trò đó ngày xưa tôi làm mãi. Và bây giờ vẫn có thể làm, thậm chí còn hay hơn cô ấy chứ. Nhưng vì mục đích gì, gặt hái gì khi mọi thứ đã no nê? Cô nhìn lão trong quán cà phê hạng sang. Trong com-lê và cà vạt đắt tiền. Còn tôi có khá nhiều dịp (nhiều hơn cả cần thiết) nhìn lão trong quần đùi rộng, trong áo may ô chả hiểu màu gì.
Và tôi cam đoan rằng, cái tôi nhìn mới là sự thật. Cái cô nhìn là giả. Cô thừa biết thế, chẳng qua cô đang tự dối mình. Cô chê tôi chỉ biết rửa bát, nấu cơm. Cô thương tôi vì tôi chỉ chăm chăm lo cái nhà sạch bóng. Nhưng tôi lại thích vậy. Vì đấy là nhà tôi và lão chỉ có nữa phần. Còn lão có bóng hay không, có sạch hay không, lão tự phải lo. Tôi còn bận lo cho bản thân mình.
Tôi không chúi mũi vô bếp như cô tưởng và lão tưởng chút nào. Tôi say mê đánh bài. Tôi nghiện làm đầu và giũa móng tay. Tôi ham thích “tám” và hăng hái đi chùa. Tôi khoác áo lụa mỡ gà, khoác vòng cẩm thạch và tôi sắm đủ cho mình (bằng tiền lão, dĩ nhiên).
Còn việc cô ngắm trăng cùng chàng, đọc thơ cùng chàng hay đốt nến cùng chàng thì xin cô hảy cứ tự nhiên. Những thứ vớ vẫn và phù du đó ngày xưa tôi cũng nghĩ là ghê gớm lắm. Nhưng tôi nhanh chóng phát hiện ra chúng suốt đời loanh quanh như thế, và chả có ích lợi gì. Chúng chỉ như những hạt tiêu rắc vô bát phở, không hề bổ béo, chỉ khiến nó dậy mùi. Mà mùi thì tôi đã chán. Chán không phải do tâm hồn tôi cằn cỗi, mà là do đã quá đủ rồi !
Cuối thư cô cho biết đã chuồn ra khỏi lão, hoặc lão đã chuồn ra khỏi cô. Tôi chả hiểu ai thoát được ai. Nhưng chắc chắn là tôi suýt thoát. Tiếc quá. Giá mà lão đi với cô, giá như lão ảo tưởng về sức mình thì tôi đã có cơ hội tuyệt vời để lại được tung tăng.
Tôi tin chắc mình tung tăng chả khi nào muộn, khi mình kiêu hãnh, mình không nghèo khó và mình có sự mặn mà. Những thứ đó, cô còn lâu mới đạt tới, cô bé đáng thương ơi!
Cô yên tâm. Tôi sẽ đón lão về. Cáo chết còn quay đầu về núi, trong khi lão chả phải là cáo, lão là người. Tôi cũng chả giày vò, đay nghiến chi đâu. Tôi không phải hang tôm hang cá. Tôi chỉ cười khảy mà thôi. Một nụ cười mà đã làm lão nhớ đến cả chục năm.
Chúc cô may mắn trên con đường chinh phục các lão khác. Thế gian chả thiếu ông già. Cô cứ việc xông lên.
Chào cô..

Thư của ông chồng gửi vợ và bồ nhí :
Hai bà than mến !
Tôi đã đọc thư của bà nọ gửi cho bà kia. Tại sao tôi đọc thư Tại vì khi các bà cả đời theo dõi tôi, rình rập tôi, chả lẻ không có phút nào tôi theo dõi lại.
Đọc xong hai bức thư, tôi hơi buồn. Dù cố tỏ ra lịch sự, để xứng đáng với bản than mình và xứng đáng với tôi, nhưng các bà vẫn vênh váo và công kích lẫn nhau. Bà nọ coi thường bà kia, cho bà kia là nạn nhân của mình.
Thưa các bà,
Có một điều chắc chắn hai bà không chịu hiểu: chính tôi mới là nạn nhân của hai bà. Cả thế giói biết điều đó. Cả nhân loại tiến bộ lên án điều đó.
Ai, nếu không phải hai bà, chỉ sau mười mấy năm, đã biến một chàng trai khỏe mạnh, đầy nhiệt tình, đày sức sống như tôi thành một ông già tuy chưa già (còn lâu tôi mới già) nhưng gầy yếu, còm nhom, sợ sệt?
Ai, nếu không phải hai bà, có lúc từng người một, ngày đêm tra khảo tôi, ép uổng tôi, vùi dập tôi?
Trong cuộc tàn phá đời tôi, hai bà có rất nhiều điểm chung: cùng nấu ăn dỡ, cùng mua cho tôi những chai bia dỡ và cùng bắt tôi đi coi những bộ phim dỡ.
Nhưng hai bà, mỗi người đều có những đặc điểm riêng, ghê rợn. Bà đầu tiên thích xuất hiện trong nhà với bộ đồ nhàu nát, với mái tóc rối bù cùng với đôi dép chiếc nọ chiếc kia. Bà sau này xuất hiện nơi công cộng với quần sọc chật căng, với áo thủng ở lưng cùng với mắt xanh viền đỏ. Cả hai thứ ấy đều giết tôi, đều nện tôi chí tử về mặt tinh thần.
Nếu bà thứ nhất sểnh ra lại chạy sang hàng xóm, nghe thiên hạ kể về chồng thiên hạ, sau đó tự khai báo về chồng mình, thì bà thứ hai sểnh mắt ra là phóng thẳng tới quán cà phê, nghe thứ nhạc cả thiên hạ nghe tuy chả đứa nào hiểu được câu nào.
Nếu bà thứ nhất đay nghiến tôi bao giờ về thì bà thứ hai hỏi tôi bao giờ đi. Nếu bà thứ nhất kêu rằng tiền điện, tiền gas đã tăng thì bà thứ hai than thở son môi và phấn hồng sao không giảm giá. Nếu bà thứ nhất khảo tôi về tiền lương thì bà thứ hai khảo tôi về quà tặng. cả hai bà, trong một phạm vi nào đó, đều lái tôi và đối xử với tôi như thế tôi là giám đốc nhà băng.
Cho nên không lạ gì, cho tới tận phút này, nhiều lúc tôi ngạc nhiên là mình còn sống. Hoặc mình chưa ngồi trên chiếc xe lăn. Nhưng tôi cảm thấy rất rỏ ràng, cái giờ phút đó cũng chả còn xa nữa.
Đọc tới đây, chắc hai bà sẽ hỏi: khổ như vậy sao ông (bà thứ nhất gọi ông) và sao anh (bà thứ hai kêu anh) vẫn đèo bồng?
Khổ quá. Câu hỏi đó, chính tôi cũng thường tự hỏi mình. Và tôi cũng mang ra hỏi bạn bè tôi, tức mấy gã đàn ông khác. Số phận chúng cũng chả hơn gì. Và bọn tôi đành kết luận thế này: cái kiếp đàn ông nó thế !
Nhân đây cũng nói luôn, kiếp đàn ông thật ra là kiếp vo cùng khổ cực. Nhiều khi chả khác gì con ngựa ,con trâu (chẳng hề được như con dê mà dân gian vẫn nói).
Đàn ông sinh ra là để đàn bà lợi dụng, bóc lột (đôi khi bóc lột còn thô bạo hơn cả cướp bóc), đè nén và hành hạ. Đàn ông sinh ra là để đàn bà sai đi mua đồ, sai lái xe, sai trả tiền, sai đón con, sai luôn cả việc …đi ngủ.
Trong cái bể khổ mênh mông, bao la đó, sự khổ vì bồ nhí cũng chả nổi bật bao nhiêu. Nó chỉ được gom chung vào nổi khổ vì các bà. Đã là các bà thì một bà, hai bà hoặc ba bà cũng thế thôi !
Hai bà thân mến,
Giờ đây tôi cũng đã tỉnh ra rồi. Tôi xin hai bà tha cho. Tôi không còn sức nữa. Kể từ giờ phút này, tôi là một gã trai vô hại. Từ bỏ mọi mưu mô. Tôi ăn cơm nhà, tôi ngủ giường nhà. Tôi nuôi vài con chim, mua vài hòn non bộ, săm mấy giò phong lan. Tôi mở ti vi xem tiết mục “Thầy thuốc gia đình”. Tóm lại, tôi hoàn lương toàn diện.
Hai bà đừng xỉa xói nhau nữa. Đừng so bì nhau nữa. Tôi đã đầu hàng. Tôi đứng giữa hai phe. Tôi xin ngừng bắn.
Bà nào định đi đâu, cứ đi. Bà nào đang ở đâu, cứ ở. Tôi cũng thế. Tôi xin một phút bình yên. Tha cho tôi đi nhé.
(sưu tầm)


Thứ Ba, 2 tháng 11, 2010

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010

Và đây nữa...

Tiêu Quốc Tiêu
Thảo phạt Ban Tuyên huấn Trung Ương
Nguyễn Thành Tiến dịch
Ban Tuyên huấn TW là cơ quan của TW ĐCS Trung Quốc chuyên lãnh đạo công tác văn hoá, tuyên truyền, dư luận, báo chí… (được mệnh danh là “Thái thượng hoàng” của báo chí). trong thời kỳ trước và sau Cách mạng Văn hoá, Mao Trạch-đông (Mao) đã từng gọi Ban Tuyên huấn TW do Lục Định-nhất, Chu Dương… lãnh đạo là “Điện Diêm vương” bởi nó chuyên bảo vệ phái hữu để chống lại phái tả. Trong lịch sử Trung Quốc, lãnh đạo Ban Tuyên huấn TW thường là vật hy sinh của các cuộc đấu tranh chính trị. Giữ chức vụ trưởng Ban Tuyên huấn TW qua các thời kỳ gồm có: Lục Định-nhất, Tập Trọng-huân, Đào Chú, Trương Bình-hóa, Hồ Diệu-bang, Vương Nhiệm-trọng, Đặng Lực-quần, Chu Hậu-trạch, Đinh Quang-căn, Vương Nhẫn-chí…Trưởng Ban Tuyên huấn TW hiện nay là Lưu Vân-sơn.

Ông Tiêu Quốc-tiêu, Giáo sư khoa Báo chí Đại học Bắc-kinh, đã đứng trên lập trường của ĐCS Trung Quốc phê phán Ban Tuyên huấn TW bằng một bài viết khoảng 14 ngàn từ. Sau đây là phần nội dung cốt lõi nhất.
Chỗ “thắt cổ chai” trên con đường phát triển văn minh của xã hội Trung Quốc là gì? – Là Ban Tuyên Huấn TƯ (đại diện cho cả hệ thống tuyên huấn).

Kẻ vác đá ghè chân mình là ai? Là Ban Tuyên Huấn TƯ.

Ai đã dung dưỡng bao che cho những phần tử hủ bại? Là Ban Tuyên Huấn TƯ.

Vậy nó nói lên điều gì? Tất cả mọi người đều biết ở Trung Quốc không có nhiều tự do báo chí, thậm chí là rất ít. Thử hỏi ai đã cân đong bớt xén quyền tự do vốn rất ít ỏi ấy của báo chí Trung Quốc? Chính Ban Tuyên Huấn TƯ.

Mức độ tự do báo chí là thước đo của văn minh xã hội. Các nhà triết học tiền bối phương Tây đã nói: “Có thể không có chính phủ nhưng không thể không có tự do báo chí”. Ban Tuyên Huấn TƯ đã coi báo chí như kẻ thù, ngay cả 4 chữ “tự do báo chí” cũng không được phép dùng tùy tiện. Điều đó chứng tỏ là họ đã chà đạp lên những chuẩn mực tối thiểu nhất của văn minh. Ban Tuyên Huấn TƯ đã rơi vào “cái lô-cốt” ngu muội và lạc hậu nhất. Những niềm tin, nỗi buồn đạt được bằng sự lãnh đạo của Ban Tuyên Huấn TƯ đồng thời cũng làm cho hình tượng của Đảng và Chính phủ cùng những văn minh tiến bộ của đất nước phải trả giá đắt.

Nếu như cứ chấp nhận sự hoành hành vô lối của Ban Tuyên Huấn TƯ, tiếp tục gây tai họa cho đất nước, thì không chỉ riêng nó vĩnh viễn rơi xuống địa ngục, mà sự nghiệp cải cách vĩ đại của Trung Quốc sẽ tan thành mây khói, hàng triệu trí thức nhân văn cũng sẽ không ngẩng cao đầu lên được. Do đó, chúng ta phải “xả thân phấn đấu để thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ”.


14 chứng nan y của Ban Tuyên Huấn TƯ

Thứ nhất: Dùng phép phù thủy làm phương pháp công tác

Hôm nay không được nêu vụ Tưởng Ngạn Vĩnh, ngày mai không được nhắc lại vụ dịch SARS, ngày kia cấm đăng việc này việc nọ, không được nói báo chí là “công cụ xã hội”... đại loại như vậy. Thử hỏi những lệnh cấm ấy của Ban Tuyên Huấn TƯ là từ đâu và do đâu? những cái “không được” của họ là vô căn cứ, hoàn toàn ngẫu nhiên, mang tính áp đặt, chúng không dựa theo một chuẩn mực cơ bản nào của văn minh nhân loại cả, mà trái với những kiến thức khoa học cơ bản.

Thứ hai: Vận dụng uy quyền của giáo hội La Mã

Nói đúng ra thì Ban Tuyên Huấn TƯ hiện tại chẳng khác gì Giáo hội La Mã hồi Trung cổ: Quyền lực đầy mình, độc ác và đẫm máu; kẻ nào chống lại thì ít nhất cũng phải chịu “sứt đầu mẻ trán”, nếu như không bị voi giày cọp xé. Báo chí giám sát chỗ này chỗ nọ nhưng đâu dám giám sát Ban Tuyên Huấn TƯ. Họ đã xử lí biết bao phóng viên, tổng biên tập nhưng nào có mấy ai dám ho he? Lẽ nào họ xử đúng cả? Hiện nay các Bộ và Ban Ngành của Chính phủ đều hoạt động đúng luật, tuy mức độ chấp hành pháp luật có khác nhau nhưng dù sao thì cũng có luật để mà theo; còn Ban Tuyên Huấn TƯ ra lệnh thì chẳng theo luật nào cả. Như vậy ở Trung Quốc duy nhất chỉ có Ban Tuyên Huấn TƯ là hoạt động không theo luật, họ là “vương quốc tối tăm” mà ánh sáng của “mặt trời pháp luật” không chiếu tới.

Thứ ba: Đơn giản chữ viết theo kiểu Nhật

Trong lịch sử, việc đơn giản chữ viết ở Nhật Bản đã từng xâm nhập vào Trung Quốc, biến “xâm nhập” thành “tiến xuất”. Ban Tuyên Huấn TƯ không coi đó là điều bất cập, mà bảo không nên nhắc lại cái sai của lịch sử. Những cụm từ gợi lại nỗi đau của đất nước như: “cuộc đấu tranh chống hữu khuynh”, “cách mạng văn hoá”, “sự kiện Thiên An Môn (1989)”, “hàng chục triệu nông dân chết đói”… đều là những cụm từ nên tránh sử dụng. Tất cả những cái đó khiến cho báo giới và các nhà học thuật không thể nào chấp nhận được còn dân chúng thì cảm thấy đau lòng, tuyệt vọng.

Thứ tư: Sát thủ của Hiến pháp

Tự do ngôn luận (báo chí-xuất bản) là quyền được Hiến pháp nước CHND Trung Hoa bảo hộ. Theo đạo lý thì Ban Tuyên Huấn TƯ đã là cơ quan tuyên truyền của ĐCS Trung Quốc thì phải là người bảo vệ quyền tự do ngôn luận ấy. Nhưng trên thực tế họ lại là kẻ xâm hại nặng nề nhất quyền tự do ngôn luận. Họ đã dùng trăm phương ngàn kế chà đạp lên quyền tự do ấy. Cho nên, muốn bảo vệ Hiến pháp thì không thể không “thảo phạt” Ban Tuyên Huấn TƯ.

Thứ năm: Phản bội lý tưởng cao cả của ĐCS Trung Quốc

Những năm 40 của thế kỷ XX, thời kỳ đấu tranh chống chế độ chuyên chế Quốc dân đảng là thời kỳ vẻ vang huy hoàng nhất của ĐCS Trung Quốc. Vậy mà học giả Tiếu Tú tập hợp lại những bài xã luận đã đăng trên “Tân Hoa nhật báo” Trùng Khánh, “Giải phóng nhật báo” Diên An… phát hành trong thời kỳ đó để in thành sách “Những tiếng nói đầu tiên của lịch sử” thì lại bị Ban Tuyên Huấn TƯ cấm đoán. Những tiếng nói tự do dân chủ trong thời kỳ đó đối với Trung Quốc là rất có ý nghĩa, chúng đại biểu cho những bài viết có phương hướng văn hoá tiến bộ, vậy mà nay lại bị Ban Tuyên Huấn TƯ cấm xuất bản, thì cũng đủ chứng tỏ họ là kẻ thù của lý tưởng ban đầu của ĐCS Trung Quốc rồi.

Thứ sáu: Truyền bá tư duy chiến tranh Lạnh

Câu nói bất hủ của Mao: “Phàm là những gì kẻ thù phản đối thì ta ủng hộ, phàm là những gì kẻ thù ủng hộ thì ta phản đối” đến nay vẫn là phương châm được Ban Tuyên Huấn TƯ vận dụng để chỉ đạo báo chí tuyên truyền và coi đó là “kim chỉ nam” cho hành động.

Thứ bảy: Cắt xén, cản trở thực hiện tinh thần chỉ đạo của Trung ương chứ không phải quán triệt tinh thần ấy

Có một số đồng chí nhà báo thường lên Ban Tuyên Huấn TƯ để “lãnh chỉ” hoặc nghe huấn thị đã phát biểu: Một khi anh đã lên Ban Tuyên Huấn TƯ nghe huấn thị thì anh sẽ cảm thấy tình hình Trung Quốc rối tung rối mù, rất nghiêm trọng, trái hẳn với tinh thần của Trung ương; anh sẽ biến thành kẻ đầu têu cắt xén, cản trở, phủ định, thậm chí chống lại tinh thần của Trung ương. Những người gây ra chuyện đó không phải là Đài Loan, Hồng Kông; không phải là bọn tham nhũng hay phần tử hải ngoại “vận động dân chủ” và thân nhân của những người tử nạn trong “sự kiện Thiên An Môn” mà chính là Ban Tuyên Huấn TƯ của ĐCS Trung Quốc.

Thứ tám: Bệnh “Máu lạnh và nhược trí”

Ban Tuyên Huấn TƯ thậm chí đã chỉ trích báo chí thông tin về nỗi oan khuất của quần chúng. Phản ảnh việc nhân dân gửi đơn hoặc đi khiếu nại tố cáo thì sao có thể coi là gây mất ổn định xã hội cơ chứ? Không phản ảnh, để tích tụ lâu ngày mới là nguyên nhân gây mất ổn định xã hội. Hàng ngày, phải đối mặt với những nỗi oan chồng chất của nhân dân, họ không những không động lòng mà còn trách báo chí phản ảnh thái quá thì quả là hạng người có trái tim đá và dòng máu lạnh! So với 1,3 tỷ nhân dân Trung Quốc, những người đi khiếu nại tố cáo chỉ là thiểu số thì làm sao có thể gây mất ổn định xã hội kia chứ? Huống hồ, 80-90% trong số đó đều là những người hiền lành, chứ những kẻ cơ hội quá khích thì căn bản không làm như vậy. Những lời chỉ trích của Ban Tuyên Huấn TƯ sẽ chẳng bao giờ giải quyết được tận gốc nạn khiếu kiện.

Thứ chín: Chỗ dựa cho kẻ bạo tàn, hư hỏng

Năm ngoái, giới báo chí đều nhận được 25 điều chỉ thị “không được đăng báo” do Ban Tuyên Huấn TƯ “phùng mang trợn mắt” phun ra. Trong đó có “không được đăng” vụ Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh ủy Vân Nam bị “song quy” (theo chỉ thị của Trung ương, những cán bộ “có vấn đề” đều phải được làm rõ trong một thời hạn và tại một địa điểm quy định). Tại sao không được đăng báo? Điều “không được đăng” này làm cho báo giới cả nước lấy làm tiếc, còn kẻ hư hỏng thở phào nhẹ nhõm. Đúng là “Hoà thượng che ô, vô pháp vô thiên!” Thử hỏi tất cả những người coi trọng chính nghĩa rằng như vậy có chịu nổi không?

Thứ mười: “Ăn quả quên người trồng cây”

Báo giới được Ban Tuyên Huấn TƯ quản lý chặt như bó giò, cứ tưởng họ sẽ bảo vệ mình nhưng không ít nhà báo bị trù dập mà không thấy họ nâng đỡ hoặc lên tiếng. Họ có vô số biện pháp để quản lý, uốn nắn nhà báo nhưng khi nhà báo bị hàm oan, muốn được họ giúp đỡ, minh oan thì họ rụt đầu lại chẳng khác gì một con rùa!

Thứ mười một: Ra vẻ quý tộc nhưng là nô lệ của đồng tiền.

Họ luôn tùy tiện ngăn cản báo chí thực hiện chức năng giám sát bằng dư luận bởi một tiếng “ngừng” với một lý do đàng hoàng là “tránh gây mất ổn định xã hội”. Nhưng trong nhiều trường hợp, đó là cuộc trao đổi giữa quyền và tiền, là dùng quyền lực để thu “tô”, là được kẻ xấu nhờ vả. Họ mượn quyền quản lý báo chí được Đảng và Nhà nước giao phó nhằm làm giảm bớt tai họa để trục lợi cá nhân. Như vậy, mỗi lần ngăn cản báo chí đưa tin là một lần họ dung túng cho một hoặc nhiều kẻ xấu, một lần duy trì tai họa. Họ bán rẻ hình tượng của Đảng và Nhà nước để đổi lấy những lợi ích phi pháp.

Thứ mười hai: Kẻ thù ghét những người tài đức, ai tỏ ra vượt trội thì “diệt”, ai ủng hộ chính nghĩa thì “chôn sống”

Hiện nay ở Trung Quốc không có loại sách bán chạy, nếu có cuốn nào bán chạy thì lập tức bị Ban Tuyên Huấn TƯ “đốt” ngay. Họ luôn có lý do đàng hoàng mà lòng dạ thì vô cùng đen tối. Cấm một cuốn sách hay, bán chạy là bóp ngẹt sức sáng tạo của dân tộc Trung Hoa. “Bịt miệng” được một nhà báo, một học giả hay một tờ báo tâm huyết với chính nghĩa là làm nhụt chí khí của xã hội Trung Quốc. Sở dĩ hiện tại ở Trung Quốc tinh thần sáng tạo cạn kiệt, đạo đức suy đồi, chính nghĩa co cụm, ác bá hoành hành, chính khí lụn bại… thì 99% là trách nhiệm của Ban Tuyên Huấn TƯ.

Thứ mười ba: Nhân vật thứ 2 tạo ra hiểm họa khiến quần thể suy yếu

Tại sao người lao động bị nợ lương triền miên mà chỉ có Thủ tướng Ôn Gia Bảo ra tay thì mới được giải quyết? Ban Tuyên Huấn TƯ cấm đoán báo chí thông tin, việc nợ lương không lọt vào tầm mắt quốc dân thì giải quyết sao được? Tại sao việc dân khiếu kiện kéo dài hàng chục năm không dứt? Tại Ban Tuyên Huấn TƯ che đậy tội ác. Những điều bất cập trong công tác kế hoạch hoá dân số vẫn tiếp tục tái diễn do báo chí không được phép thông tin. Kẻ xấu không sợ quan chức mà chỉ sợ đạo đức chính trị và đạo đức xã hội. Báo chí Trung Quốc vốn có thể làm một vạn điều tốt cho dân, hạn chế đều là tai họa; chỉ tại Ban Tuyên Huấn TƯ ngu muội, lạc hậu trong phương thức tư duy và bá đạo, võ đoán trong cách làm việc nên đã cấm đoán hết 9999 điều.

Thứ mười bốn: Ban Tuyên Huấn TƯ biến Tổng biên tập các cơ quan báo chí thành những người vô cảm, phi chính nghĩa và thiếu văn hoá

Mỗi lần nghe họ giáo huấn xong, người ta thấy mình như vừa thoát nạn, bởi dường như họ đang lội ngược dòng thời đại. Nhìn bề ngoài, các Tổng biên tập thấy mình vẫn còn nguyên vẹn nhưng nội tâm đã bị tổn thương rất nhiều. Những lời giáo huấn của các Tổng biên tập đã làm tổn thương hoàn toàn khả năng chống vô cảm, sự đồng cảm với chính nghĩa và văn minh của họ. Gây ra sự vô cảm là tai họa lớn nhất thế giới; chà đạp lên sự đồng cảm với chính nghĩa là sự chà đạp tàn bạo nhất thế giới.


Thượng sách và hạ sách cứu Ban Tuyên Huấn TƯ

Thượng sách là trượt tiêu Ban Tuyên huấn các cấp. Nước Mỹ có Ban Tuyên huấn không? Nước Anh có không? Châu Âu có không? – Tất cả đều không có. Vậy ai có Ban Tuyên huấn? Đức Quốc Xã có và đã từng xuất hiện một vị Trưởng ban lừng danh là Tiến sĩ Goebbels với câu nói bất hủ của ngài: “Lặp lại một ngàn lần nói dối sẽ biến thành lời nói thật!”. Trong thời kỳ Tưởng GiớI Thạch thống trị Trung Quốc cũng có Ban Tuyên huấn. Trọng tâm tuyên truyền của thời kỳ đó chỉ gói gọn trong câu: “Cộng sản nghĩa là dùng chung tài sản và vợ”. Chúng còn gọi đội quân của Mao-Chu (Ân Lai) là “Cộng phỉ”. Về bản chất, Ban Tuyên Huấn TƯ luôn chống lại lý luận duy vật cuả chủ nghĩa Mác. Phương châm hành động của họ là “Việc tốt tự nó phát sinh; việc xấu tự nó mất đi; việc tốt, bé sẽ thành lớn; việc xấu, lớn sẽ hóa bé…” Họ lẫn lộn trắng đen, chẳng hiểu khách quan là gì và luôn đi ngược lại tinh thần thực sự cầu thị. Nếu không nhận thức được bản chất công việc của Ban Tuyên Huấn TƯ sẽ là tội ác, là tai họa, là biểu hiện của Đảng và Chính phủ đang tự xa rời dân chúng. Nếu chính phủ Trung Quốc thấy hình ảnh của mình không mấy đẹp đẽ trên chính trường thế giới thì trước hết hãy hỏi tội Ban Tuyên Huấn TƯ. Tính chất và phương thức làm việc của họ đều không hội nhập được với nền văn minh hiện đại.

Hạ sách là phải soạn thảo một “Bộ luật về công tác Tuyên huấn” để họ cứ theo đó mà làm, khỏi phải vận dụng phép thuật phù thủy. Cũng có thể cho phép họ làm việc theo mô thức công tác hiện hành, nhưng phải có quy chế giám sát chặt chẽ để họ không làm việc máy móc như Giáo hội La Mã.


4 biện pháp cụ thể

Biện pháp I: Thiết lập một hạng mục chuyên nghiên cứu học thuật để tính công-tội cho Ban Tuyên Huấn TƯ

Thử xem trong giai đoạn lịch sử vừa qua, hệ thống tuyên huấn trong cả nước đã làm được những gì, những vị Trưởng ban nào là công thần của dân tộc Trung Hoa, những vị nào là tội phạm; công thần thì đưa lên bàn thờ, tội phạm thì cho xuống địa ngục. Có thể gạt bàn tính để tính ngược từ vị Trưởng ban đương nhiệm là Lưu Vân Sơn và Cát Bỉnh Cán rồi Đinh Quang Căn, Vương Nhẫn Chi, Từ Duy Thành…

Biện pháp II: Yêu cầu Ban Tuyên Huấn TƯ lập sổ nhật ký công tác

Ban Tuyên Huấn TƯ nhất thiết phải có sổ nhật ký để ghi rõ toàn bộ công việc hàng ngày. Hôm nay đã ra lệnh phong toả nào, ngày mai sẽ tung “con chủ bài” nào, tất cả đều phải ghi cụ thể vào sổ để giám sát và sau này còn đối chiếu, truy cứu trách nhiệm, để lịch sử phán xét có công hay có tội, nên thưởng hay nên phạt. Hiện đang có một tình trạng khá phổ biến là để khỏi phải chịu trách nhiệm, khỏi bị lịch sử phán xét, người ta thường ra “lệnh cấm” bằng điện thoại. Cần phải kiên quyết ngăn cái trò quỷ không lưu lại bút tích này. Đứng trước một việc xấu, báo chí chuẩn bị đưa ra ánh sáng thì Ban Tuyên Huấn TƯ liền gào lên trong điện thoại: “Phải cứu người, không được đăng báo!”. Các nhà nghiên cứu phải hết sức quan tâm tới việc này, ngoài những lý do đàng hoàng “cần phải giữ ổn định” ra thì để ý quan sát kỹ xem có “sự trao đổi quyền-tiền” không?

Phải truy vấn xem tại sao anh ta lại hăng hái bao che cho người xấu? Văn hào Lỗ Tấn đã từng nói: “Tôi không bao giờ đem những ác ý tồi tệ đổ lên đầu người Trung Quốc cả”. Nhưng chúng ta có lý do để làm điều này đối với Ban Tuyên Huấn TƯ bởi những cú điện thoại bảo dừng của họ. Mỗi cú điện thoại ấy, họ nhận được bao nhiêu tiền của kẻ xấu? “Thành thật thì khoan hồng, kháng cự thì nghiêm trị”, thực tiễn đã dạy, chúng ta cần ghi nhớ!

Biện pháp III: Xây dựng chế độ truy phạt những việc làm sai của Ban Tuyên Huấn TƯ

Đã có chế độ truy cứu trách nhiệm đối với những công trình xây dựng bị “rút ruột”, thì những việc làm sai của Ban Tuyên Huấn TƯ còn tai hại hơn nhiều; do đó cũng cần phải áp dụng chế độ truy cứu trách nhiệm. Nói cách khác, công trình siêu cấp về hình thái ý thức mà bị “rút ruột” thì hậu quả khủng khiếp biết chừng nào, vì vậy, không thể cho qua. Từ trước đến nay, Ban Tuyên Huấn TƯ đã phát động biết bao chương trình hành động phản cái này, chống cái nọ. Bây giờ nhìn lại thấy tức cười, rõ là trò ma! Vậy mà chẳng thấy ai dám đứng lên chịu trách nhiệm về những trò ma ấy cả.

Biện pháp IV: Công khai hoá hoạt động của Ban Tuyên Huấn TƯ

Việc này khiến báo chí có thể đăng kịp thời những chỉ thị của Ban “yêu cầu không được đăng báo”, hoặc phát chúng lên mạng. Ban Tuyên Huấn TƯ cũng nên có nghĩa vụ pháp định như thế để nhân dân cả nước có thể đánh giá lệnh nào của Ban là chính xác, là công đức; lệnh nào là tội ác, là phản văn minh, là hại dân hại nước. Các Tổng biên tập báo chí sau khi nghe những lời răn dạy của Ban Tuyên Huấn TƯ, nếu thấy có những điểm nào trái với kiến thức thông thường của xã hội văn minh, thì hãy tự giác đưa nó lên mạng. Ác quỷ luôn sợ ánh sáng. Các vị sợ gì mà không phơi bày tính kiêu ngạo lộng hành, luôn cho mình là đúng của Ban Tuyên Huấn TƯ. Các vị cứ việc nói những điều mà sau khi nghe họ giáo huấn các vị cảm thấy chưa thoả đáng, không chính xác, thậm chí là phản động, dù đó là “vấn đề bí mật, cấm không được nói”.

Theo một số Tổng biên tập kể lại, về cơ bản thì những lời răn dạy của Ban Tuyên Huấn TƯ thường không theo lý tính, không phù hợp với thường thức văn minh, cũng không liên quan gì đến trách nhiệm của báo chí; thậm chí, cũng có trường hợp gần như lưu manh, vô lại, theo giọng điệu của anh hàng thịt; nó thể hiện tính hách dịch, bá quyền.

Hệ thống báo chí Trung Quốc lớn đến thế mà cống hiến chẳng được bao nhiêu cho dân mình. Nguồn gốc của tai họa ấy thuộc về ngành Tuyên huấn. Họ đã làm suy giảm chức nang giám sát của báo chí, vì chức quyền mà quay ngược bánh xe lịch sử.


Hãy đánh bật gốc rễ cực tả

Những năm qua trên báo chí thường có câu: “Với lý do như mọi người đã biết, tin này bị cắt bỏ”. Thế nào là “lý do như mọi người đã biết”? – Đó là sự can thiệp của Ban Tuyên Huấn TƯ. Vì “lý do như mọi người đã biết” mà tin không được đăng báo, trên thực tế mặc dù đó là hoang đường, ngu muội, thậm chí là phản động, nhưng buộc phải nghe theo. Điều này chứng tỏ Ban Tuyên Huấn TƯ có đặc quyền đổi trắng thay đen, cưỡng bức thông tin, biến hươu thành ngựa, bất chấp đạo lý, chà đạp văn minh. Cái hoang đường như mọi người đều biết ấy có quyền lực rất lớn, thần thánh cũng không thể xâm phạm, không thể đảo ngược; hàng chục vạn nhà báo, hàng trăm vạn trí thức, chẳng ai dám ra mặt phản đối, dù chỉ nửa lời. Quả là điều sỉ nhục về nhân cách đạo đức của người Trung Quốc.

Ban Tuyên Huấn TƯ tại sao lại ngược ngạo đến thế? Đó là di sản lịch sử mà lịch sử cực tả đã giao cho họ. Từ thời Vương Minh, Khang Sinh, Diêu Văn Nguyên, Trương Xuân Kều đến nay, Ban Tuyên Huấn TƯ luôn được hưởng quyền miễn trách cứ về đạo đức và chính trị. Họ chẳng phải chịu trách nhiệm gì cả, chẳng phải chịu phản tỉnh, chẳng việc gì phải sám hối, cũng chẳng tự vấn lương tâm. Đường lối chính trị thay đổi, nhân sự thay đổi, nhưng Ban Tuyên Huấn TƯ là một bộ máy “hồng và độc ác” thì vẫn được giữ nguyên. Xưa nay nó chưa hề được “thanh toán”, vai trò của nó luôn bất biến, phương thức tư duy và phương thức làm việc chưa ai đụng đến, tính cực tả và loạn nghịch của nó vẫn còn nguyên. Cần phải thanh toán mọi tội lỗi của Ban Tuyên Huấn TƯ trong các thời kỳ lịch sử như đã thanh toán Vương Minh, Khang Sinh, Diêu Văn Nguyên, Trương Xuân Kiều! Cần phải hiểu rằng Trung Quốc là của mỗi người dân Trung Quốc, là mảnh đất sống của con cháu muôn đời, ai cũng có quyền sổng tự do, diễn đạt tự do, ăn nói tự do.


14 lý do thảo phạt

Lý do thứ nhất: Chủ tịch Mao đã nói: “Tất cả bọn phản động đều là hổ giấy. Thoạt nhìn thì chúng rất đáng sợ nhưng trên thực tế thì chẳng có gì ghê gớm. Về lâu dài có thể thấy sức mạnh thật sự không thuộc về bọn phản động, mà thuộc về nhân dân”. Báo chí cũng đã có lần gọi Ban Tuyên Huấn TƯ là “phái phản động” rồi. Họ phản động ra sao thì ai cũng biết; họ phản động một cách trắng trợn, lộ liễu, không cần phải giấu diếm.

Lý do thứ hai: Đó là quyền lợi Hiến pháp của chúng ta. Nước cộng hoà không cần có hổ, Nước cộng hoà không cần có thánh vật, nước cộng hoà cũng không cần có thánh nhân như Hồng y giáo chủ.

Lý do thứ ba: Tôi văn minh, cao thượng hơn Ban Tuyên Huấn TƯ. Họ đã xô đẩy Đảng và Chính phủ vào chỗ bất nghĩa. Mỗi chỉ thị “không được” do họ đưa ra đều là kết tinh của sự ngu muội, đều trái với sự nghiệp của Đảng và Chính phủ.

Lý do thứ tư: Tôi không thể chịu nổi việc họ chà đạp lên những thường thức văn minh nhân loại. Họ không cho phép báo chí dùng từ “công dân” mà phải dùng từ “bà con”; không muốn các từ “tự do dân chủ” xuất hiện nhiều trên mặt báo; trong Hiến pháp có thể dùng, trong Báo cáo chính trị của Đại hội XVI (ĐCS Trung Quốc) có thể dùng, còn những người bình thường thì chớ. Điều này chứng tỏ những từ “tự do dân chủ” chỉ được dùng để trang trí. Vấn đề đó có ý nghĩa gì? – Đó là kẻ thù của nhân loại, kẻ thù của văn minh, kẻ thù của dân chủ và kẻ thù của tự do! Đó là “mâu thuẫn giữa địch và ta”. Ban Tuyên Huấn TƯ không phải là người quán triệt tư tưởng “Ba đại diện”, mà là đại biểu cho sự ngu muội, lạc hậu, đại biểu cho khuynh hướng văn hoá tù đọng, trầm luân của loài người.

Lý do thứ năm: Tôi có cái đức ham sống. Tôi không chịu nổi khi nhìn thấy bộ máy Ban Tuyên Huấn TƯ tự hủy diệt mình, càng không chịu nổi việc phải nghe lời các vị để tiếp tục hủy diệt những tinh hoa của đất nước.

Lý do thứ sáu: Trưởng các Ban Ngành khác cùng với đơn vị mình có thể trở thành đối tượng “mổ xẻ” của báo chí. Công việc của Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ có thể bị “phê phán”, vậy dựa vào đâu mà Ban Tuyên Huấn TƯ không bị “chất vấn nọ kia”? Các ngành tư pháp, công an, đường sắt, lao động và bảo hiểm xã hội… cùng các vị Bộ trưởng đều đã từng bị báo chí chất vấn, trách cứ. Nhất là ngành đường sắt, năm nào cũng bị bàn dân thiên hạ la ó, bủa vây như phường săn vây sói.

Lý do thứ bảy: Phó Ban Tuyên Huấn TƯ là ông Cát Bỉnh Cán, người Hà Nam. Cuối năm 2003, ông này liên tục phát ra 23 chỉ thị “không được”… Người Hà Nam mà nắm hình thái ý thức khiến nhân dân không an tâm. Xưa nay Hà Nam là tỉnh bị thiên tai nhiều nhất Trung Quốc. Sở dĩ Hà Nam bị nhiều thiên tai căn bản là do các quan chức địa phương quá nhạy cảm với hình thái ý thức. Chúng ta không thể để cho môi trường dư luận cả nước bị “Hà Nam hoá”.

Lý do thứ tám: Đây là một cảm nhận văn chương của tôi. Lương Khải-siêu đã phát triển đời sống văn hoá đến đỉnh điểm; Hồ Thích phát triển Bạch thoại đến tầm cao; Từ Chí Quyền phát triển Thơ mới đến thượng tầng; Lỗ Tấn đưa Tạp văn lên chót vót. Lý Ngao, Bá Dương, Vương Nê, Khổng tử, Mạnh tử, Tào Tuyết Cần… Đường-Tống bát đại gia đều đã quy tiên, nhưng những đỉnh cao của họ đều là những cống hiến lớn lao cho ngữ văn Hán và dân tộc Hán. Tôi cũng muốn đem cảm nhận văn chương của mình về những thứ không phải là vùng cấm mà bị lãng quên ấy lên đỉnh cao hơn để khắc họa thêm một vài đường nét về sự phát triển của ngữ văn Hán và dân tộc Hán. “Thư sinh báo quốc vô trường vật, Duy hữu thủ trung bút như đao [1] ”.

Lý do thứ chín: Sự cổ vũ của các bậc tiền bối. 360 năm trước, ông John Milton có tác phẩm “Bàn về quyền tự do xuất bản”; 150 năm trước, K. Marx có tác phẩm “Nhận xét về lệnh kiểm duyệt sách báo của nước Phổ”; 1.500 năm trước, Robin Hood có “Hịch dấy binh”… tất cả, lời lẽ đều ngắn gọn nhưng đanh thép. Lương Khải Siêu đã từng chửi vọng Viên Thế Khải về cái gọi là Quốc thể; các nhà lãnh đạo phong trào “Ngũ Tứ” thì kêu gọi “đánh đổ Khổng gia điếm!”; Trương Lý Loan thì khái quát về “nhân sinh quan của Tưởng Giới Thạch”, còn Quách Mạt Nhược lại kêu gọi “hãy thử nhận xét Tưởng Giới Thạch trong hiện tại”; Chuyên Tư Niên có bài “Tống Tử Văn coi bộ không ra đi không ổn”,… Việc đánh đổ “Hoàng thân quốc thích” sách thời nào cũng có, tôi chỉ muốn nói thêm một câu là “Cát Bỉnh Căn không ra đi không ổn” hoặc gào lên một tiếng là hãy “thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ”. So với các bậc tiền bối thì điều đó có kém chi? Nhưng trên thực tế chỉ là chuyện nhỏ. Hơn nữa, báo chí nước ngoài đang suốt ngày la hét: “Tổng thống không xứng đáng, mau cút về vườn đi!” hoặc “Bộ trưởng tệ quá, hãy xéo cho khuất mắt!” Tôi không tin rằng nhân dân Trung Quốc cũng hô to “thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ” vì như thế là nghịch đạo, đáng tội chết. Người lính không muốn trở thành tướng là người lính tồi; người trí thức không muốn trở thành John Milton không phải là người trí thức giỏi. Tôi muốn bài “Thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ” nảy trở thành văn kiện lịch sử trong sử sách Bưu Bỉnh giống như “Bàn về quyền tự do xuất bản”, “Nhận xét về lệnh kiểm duyệt sách báo của nước Phổ”…

Lý do thứ mười: Ao ước để phúc cho con cháu. Cứu Ban Tuyên Huấn TƯ là khởi nguồn Tự do, hạnh phúc cho đời sau. “Cộng sản”, “Dân chủ” phải chăng đã trở thành sự bưng bít, tai họa nặng nề? Chừng nào mới kết thúc?

Lý do thứ mười một: Người sơ trở thành thân. Anh làm báo chí, tôi nghiên cứu công tác báo chí, công việc của anh là đối tượng nghiên cứu của tôi. Chúng ta vốn cùng một nhà, cùng chịu trách nhiệm trước sự hưng thịnh của một “ông chủ” – đó là dân tộc Trung Hoa. vậy chúng ta hãy cùng chung một chí hướng, coi Tổ quốc là cha mẹ, đồng bào là anh em!

Lý do thứ mười hai: Căn cứ vào sinh thái học. Bọ ngựa bắt ve sầu, chim sẻ đứng phía sau, tiếp theo là ruồi nhặng. Quyền lực sinh ra tiêu cực, quyền lực tuyệt đối sinh ra tiêu cực tuyệt đối. Ban Tuyên Huấn TƯ đang có thứ tiêu cực đó nhưng tại sao không bị giám sát? Ai dám bảo đảm họ không tiêu cực? Sinh thái học thường thức không thể nào giải thích nổi điều này.

Lý do thứ mười ba: Ai rồi cũng phải chết, vậy mà tôi không muốn sống. Tôi muốn thay đổi Hiến pháp, Luật Hình và các bộ luật khác của nước CHND Trung Hoa, muốn thảo phạt cả Ban Tuyên Huấn TƯ, điều đó chưa đáng là tội chết. Là “tội sống” thì chẳng có gì đáng sợ, chỉ phải ngồi tù thôi, phải không? Ngồi tù thì khác với kiểu “đãi ngộ Tân thành”. “Ngồi Tân thành” là gửi thân xác vào ngân hàng, có lãi và không bị mất giá. Bây giờ trong số những nhân vật cũ có tên tuổi, ai mà đã không từng “ngồi Tân thành”?... Thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ thúc đẩy văn minh xã hội đương đại của Trung Quốc là công lao vô cùng to lớn, xứng mặt anh hùng, cũng giống như các bậc tiền bối đã nêu trên, đáng được lưu danh sử sách.

Lý do thứ mười bốn: Tôi rất nhạy cảm với nỗi khổ, nhưng lại khá thờ ơ với lẽ phải. Hai việc khiếu kiện với nợ lương, ai bảo điều đó gây mất ổn định xã hội, báo chí không được phản ánh, thì tôi rất ghét. Hôm Tết tôi nằm mơ đi chơi Di Hoà Viên, thấy có người chết đuối, để lại đôi giày, hoá ra đó là đôi giày của tôi. Tôi đã nhảy xuống hồ Côn Minh tự vẫn.

Trong đôi giày của tôi có bức thư gửi chủ tịch Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo. Đại ý như sau: Tại sao các vị không ra lệnh giải quyết tình trạng nợ lương công nhân? Tại sao các vị không gồng mình lên giải quyết vấn đề khiếu kiện? Hôm nay tôi sẽ chết cho các vị xem! Năm tới mà còn nợ lương với khiếu kiện thì ở dưới âm phủ tôi vẫn không nguôi giận các vị đâu! Xem kìa, tôi đang “thử chết” trong giấc mơ để phản đối chính phủ thờ ơ với tình trạng khiếu kiện và nợ lương!

Xem thêm về Tiêu Quốc Tiêu (Jiao Guobiao) và bài “Thảo phạt…” http://www.zonaeuropa.com/01814.htm

Đọc thêm...

Ngày 1 tháng 10 năm 2010

Kính gửi các ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Điều 35 Hiến pháp Trung Quốc, thông qua vào năm 1982, nói rõ: “Công dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do diễu hành và biểu tình”. Đã 28 năm nay điều khoản này vẫn chưa được thực thi vì bị những qui định và luật lệ cụ thể “bổ sung” khác phủ nhận. Nền dân chủ giả hiệu, về hình thức thì thừa nhận nhưng trong những sự việc cụ thể lại chối bỏ dân chủ, là một biểu hiện đáng hổ thẹn trong lịch sử của nền dân chủ thế giới.

Ngày 26 tháng 2 năm 2003, tại cuộc hội thảo về dân chủ giữa Uỷ ban Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đảng dân chủ khác, trước khi nhậm chức, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố một cách rõ ràng: “Bãi bỏ hạn chế báo chí, mở rộng ý kiến công khai, là quan điểm chính thống và đòi hỏi của xã hội; điều đó là đương nhiên và phải được giải quyết thông qua thủ tục lập pháp. Nếu Đảng Cộng sản không tự cải cách, không chuyển hoá, thì nó sẽ mất sức sống và dẫn đến diệt vong”.

Ngày 3 tháng 10, Fareed Zakaria của đài CNN đã phỏng vấn Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Trả lời câu hỏi của nhà báo, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nói: “Tự do ngôn luận là tuyệt đối cần thiết đối với mọi dân tộc, Hiến pháp Trung Quốc cho người dân tự do ngôn luận, đòi hỏi dân chủ của nhân dân là không thể ngăn chặn được”.

Phù hợp với Hiến pháp Trung Quốc và tinh thần của những lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo, chúng tôi xin trình bày những điều có liên quan tới việc thực thi quyền hiến định về tự do ngôn luận và tự do báo chí như sau:

Về hiện trạng của quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí ở nước ta

Chúng ta đã có 61 năm làm “chủ nhân ông” của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Nhưng quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí mà chúng ta được hưởng còn thấp hơn là dân chúng ở thuộc địa Hồng Kông từng được hưởng. Đấy là nói trước khi khu vực này được trả về cho Trung Quốc.

Trước khi được trao trả, Hồng Kông là thuộc địa của Anh, do chính phủ được Nữ hoàng Anh chỉ định cai trị. Nhưng quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí mà chính quyền Anh dành cho dân chúng Hồng Kông thì không phải là lời nói suông, chỉ có trên giấy tờ. Các quyền đó đã được ban hành và được thực thi.

Khi đất nước ta được thành lập vào năm 1949, nhân dân ta hô lên rằng họ đã được giải phóng, họ là chủ nhân ông của chính mình. Mao Trạch Đông nói rằng “Từ phút này trở đi, nhân dân Trung Quốc đã đứng lên”. Nhưng ngay trong ngày hôm nay, 61 năm sau khi thành lập nước cộng hoà, 30 năm sau mở cửa và cải cách, chúng ta vẫn chưa đạt được mức độ tự do ngôn luận và tự do báo chí mà người dân dưới chính quyền thuộc địa ở Hồng Kông được hưởng. Ngay cả hiện nay, nhiều tác phẩm thảo luận về chính trị và những vấn đề thời sự vẫn phải xuất bản ở Hồng Công. Đấy không phải là chuyện xảy ra từ ngày lãnh thổ này được trao trả mà là chiến lược cũ rích của chính quyền thuộc địa. Địa vị “ông chủ” của nhân dân Trung Quốc lục địa thật quá thấp kém. Vì vậy mà việc nước ta tự quảng bá mình là “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” mang đặc tính Trung Quốc đã gây nhiều bối rối.

Không chỉ các công dân bình thường mà ngay cả những nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản cũng không có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Gần đây Lý Duệ đã gặp hoàn cảnh như sau. Cách đây không lâu, cuốn Tập hợp các bài viết tưởng niệm Chu Tiểu Châu được xuất bản, trong đó có tiểu luận của Lý Duệ viết về Chu Tiểu Châu, đã được đăng trên tờ Nhân dân Nhật báo năm 1981. Phu nhân của Chu Tiểu Châu gọi điện cho Lý Duệ và giải thích tình hình như sau: “Bắc Kinh đã thông báo. Không được đăng bài viết của Lý Duệ”. Chuyện nực cười không thể tưởng tượng được là một bài viết cũ trên báo Đảng lại không được phép đưa vào tuyển tập! Lý Duệ nói: “Đây là đất nước kiểu gì vậy? Tôi muốn thét lên: Phải có tự do báo chí! Bóp nghẹt quyền tự do thể hiện của nhân dân như vậy là hoàn toàn phi pháp!”

Không chỉ các cán bộ cao cấp, ngay cả Thủ tướng nước ta cũng không có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí! Ngày 21 tháng 8 năm 2010, Thủ tường Ôn Gia Bảo, trong bài nói chuyện ở Thâm Quyến dưới nhan đề: “Chỉ có thúc đẩy cải cách dân tộc ta mới có tương lai tươi sáng”, đã nói: “Chúng ta phải thúc đẩy không chỉ cải cách kinh tế mà còn đẩy mạnh cải cách chính trị nữa. Không được cải cách chính trị che chở, chúng ta sẽ đánh mất các thành quả do cải cách kinh tế mang lại và mục tiêu hiện đại hoá của chúng ta cũng sẽ không trở thành hiện thực được”. Bản tin chính thức của Tân Hoa xã cũng ngày 21 tháng 8, nhan đề “Xây dựng tương lai tươi đẹp cho đặc khu kinh tế”, không đăng nội dung liên quan đến cải cách chính trị của Thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Ngày 22 tháng 9 năm 2010 (giờ Hoa Kỳ), ở New York, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã có cuộc nói chuyện với báo chí Trung Quốc tại Hoa Kỳ và báo chí Hồng Kông cũng như Ma Cao, ở đây ông lại nhấn mạnh tầm quan trọng của “cải cách hệ thống chính trị”. Thủ tướng Ôn nói: “Liên quan đến cải cách chính trị, trước đây tôi đã nói rằng cải cách kinh tế mà không được thành quả của cải cách chính trị bảo vệ thì chúng ta sẽ không thu được thắng lợi hoàn toàn và có thể những thành quả mà chúng ta đạt được cho đến nay cũng sẽ bị mất”. Ngay sau đó, Ôn Gia Bảo đã phát biểu tại kì họp lần thứ 65 của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc với bài diễn văn mang tên: “Nhận thức nước Trung Hoa đích thực”, trong đó ông lại nhắc đến cải cách chính trị. Ngày 23 tháng 9 (giờ Bắc Kinh) các sự kiện này được đưa lên chương trình Thời sự của Đài Truyền hình Trung ương và Tân Hoa xã cũng đưa tin. Nhưng họ chỉ tường thuật nhận xét của Ôn Gia Bảo về những hoàn cảnh mà người Trung Quốc ở hải ngoại phải đương đầu cũng như tầm quan trọng của các phương tiện thông tin của Trung Quốc ở hải ngoại mà thôi. Đoạn nói về cải cách chính trị đã bị lược bỏ.

Vì những nguyên nhân đó, nếu chúng ta định tìm những người chịu trách nhiệm, chúng ta sẽ không chỉ ra được người nào cụ thể. Đấy là những bàn tay bẩn vô hình. Vì những lí do mà chỉ có họ mới biết, họ đã vi phạm hiến pháp, họ thường ra lệnh bằng điện thoại rằng không được công bố tác phẩm của tác giả này hay tác giả kia, không được tường thuật trên các phương tiện thông tin đại chúng sự kiện này hay sự kiện kia. Người gọi điện không để lại tên, hoàn toàn bí mật, nhưng phải lưu ý đến chỉ thị của họ. Đấy là những bàn tay bẩn từ Ban Tuyên huấn Trung ương, nằm trên cả Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản và trên cả Hội đồng Nhà nước. Chúng tôi xin hỏi, Ban Tuyên huấn Trung ương có quyền gì mà lại cấm bài nói của Thủ tướng? Nó có quyền gì mà tước đoạt quyền của nhân dân, không cho họ được biết Thủ tướng đã nói những gì?

Yêu cầu cốt lõi của chúng tôi là giải tán hệ thống kiểm duyệt nhằm thúc đẩy hệ thống trách nhiệm pháp lí.

Quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí được điều 35 Hiến pháp bảo đảm đã bị những biện pháp bổ sung, thí dụ như “Điều lệ quản lí xuất bản” biến thành thành vật trang trí. Những qui định bổ sung này, nói chung, chính là hệ thống kiểm duyệt và cấp phép. Không thể liệt kê hết những chỉ thị và cấm đoán nhằm ngăn chặn tự do ngôn luận và tự do báo chí. Ban hành luật báo chí và bải bỏ hệ thống kiểm duyệt đã trở thành nhiệm vụ khẩn cấp đối với chúng ta.

Chúng tôi đề nghị Quốc hội tiến hành ngay việc soạn thảo Luật báo chí và bãi bỏ ngay “Điều lệ quản lí xuất bản” cũng như tất cả những hạn chế do các địa phương ban hành đối với tin tức và xuất bản. Nói theo pháp luật, việc thực thi quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí như được bảo đảm trong Hiến pháp có nghĩa là làm cho các phương tiện thông tin đại chúng độc lập đối với Đảng và các cơ quan của chính phủ, là những cơ quan đang kiểm soát chúng, và như thế cũng có nghĩa là chuyển “những cái loa của Đảng” thành “công cụ của công luận”. Vì vậy, cơ sở cho việc soạn thảo Luật báo chí phải là hệ thống trách nhiệm pháp lí trên thực tế. Chúng ta không thể lại tìm cách củng cố hệ thống kiểm duyệt nhân danh “củng cố sự lãnh đạo của Đảng”. Hệ thống kiểm duyệt là hệ thống, theo đó phải được sự chấp thuận của các cơ quan của Đảng thì mới được xuất bản, chỉ xuất bản sau khi đã được chấp chuận và coi tất cả những tài liệu đã xuất bản mà không được chấp thuận đều là phi pháp hết. Hệ thống trách nhiệm pháp lí nghĩa là tài liệu được xuất bản không cần phải được sự chấp thuận của các cơ quan của Đảng hay chính phủ, mà có thể xuất bản sau khi tổng biên tập cho là phù hợp. Nếu có những hậu quả tiêu cực hay tranh cãi sau khi xuất bản thì chính phủ có thể can thiệp và quyết định, phù hợp với luật pháp, xem có phạm pháp hay là không. Trên thế giới, sự phát triển của chế độ pháp trị trong lĩnh vực tin tức và xuất bản đều đi theo con đường như thế, tức là chuyển từ hệ thống kiểm duyệt sang hệ thống trách nhiệm pháp lí. Không nghi ngờ gì rằng hệ thống trách nhiệm pháp lí tiến bộ hơn hệ thống kiểm duyệt và rất có lợi cho sự phát triển các môn khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên, và thúc đẩy sự hài hoà xã hội và tiến bộ. Nước Anh đã bỏ chế độ kiểm duyệt từ năm 1695. Nước Pháp bỏ chế độ kiểm duyệt từ năm 1881, sau thời gian đó chỉ cần đại diện của cơ quan xuất bản viết một tờ khai rồi gửi cho văn phòng biện lí của chính phủ là có thể xuất bản báo và tạp chí rồi. Hệ thống kiểm duyệt hiện nay của chúng ta làm cho việc công bố tin tức và xuất bản sách ở nước ta đi chậm hơn Anh 315 năm và chậm hơn Pháp 129 năm.

Chúng tôi đòi hỏi những điều sau đây:

1. Bãi bỏ việc tài trợ các cơ quan truyền thông nhà nước [Ghi chú: Đó là tổ chức kiểm soát, thực hiện việc kiểm tra của Đảng đối với các phương tiện thông tin đại chúng]; cho phép các cơ quan xuất bản hoạt động độc lập; áp dụng hệ thống, trong đó giám đốc và tổng biên tập chịu trách nhiệm đối với đơn vị xuất bản của mình.

2. Tôn trọng các nhà báo và củng cố vị trí độc lập của họ. Nhà báo phải là “vua không ngai”. Tường thuật những vụ việc có đông người tham gia và vạch trần những vụ tham nhũng là công việc cao quí, công việc này phải được bảo vệ và ủng hộ. Chấm dứt ngay lập tức những hành vi trái pháp luật của các chính quyền địa phương và của công an trong việc bắt giữ các nhà báo. Xem xét lại trường hợp bắt giữ nhà văn Tạ Triêu Bình (谢朝平). Liên quan đến vụ này, bí thư đảng uỷ thành phố Vị Nam (渭南)Lương Phượng Dân (梁凤民) phải bị thi hành kỉ luật Đảng, đấy cũng là lời cảnh cáo đối với những người khác.

3. Bãi bỏ việc hạn chế tự do trong hoạt động phóng sự điều tra dư luận ngoại tỉnh, đảm bảo quyền thực hiện phóng sự điều tra của các phóng viên trong cả nước.

4. Internet là diễn đàn thảo luận quan trọng để chuyển tải tin tức trong xã hội và tiếng nói của người dân. Ngoài những tin tức thực sự liên quan đến bí mật quốc gia và những chuyện xâm phạm quyền riêng tư cá nhân, các cơ quan quản lí internet không được tự ý xoá những bài viết và bình luận đã được đưa lên mạng. Gián điệp mạng phải bị bãi bỏ, “đảng năm xu” [chỉ những người viết bài ủng hộ nhà nước, mỗi bài được trả 5 xu] cũng phải bị bãi bỏ và những hạn chế đối với công nghệ “vượt tường lửa” [chống kiểm duyệt] cũng phải bị bãi bỏ.

5. Không còn những điều cấm kị liên quan đến lịch sử Đảng. Công dân Trung Quốc có quyền biết những sai lầm của đảng cầm quyền.

6. Tuần báo Nam Phương Chu Mạt và tạp chí Viêm Hoàng Xuân Thu cần được tái cơ cấu dưới hình thức thử nghiệm tư nhân. Tư hữu hoá báo và tạp chí là xu hướng tự nhiên của công cuộc cải cách chính trị. Lịch sử dạy chúng ta: khi kẻ cai trị và người ban hành chính sách liên kết chặt chẽ với nhau, khi cả chính phủ lẫn các phương tiện thông tin đại chúng cùng mang tên là “Đảng”, và khi Đảng hát cho mình nghe thì khó liên hệ được với nguyện vọng của nhân dân và thực hiện được sự lãnh đạo đúng đắn. Từ giai đoạn “Đại nhảy vọt” đến “Cách mạng Văn hoá”, báo, tạp chí, đài phát thanh và truyền hình ở Trung Quốc lục địa không bao giờ phản ảnh nguyện vọng của nhân dân. Lãnh đạo Đảng và chính phủ không nhận được những tiếng nói phản biện của nhân dân cho nên khó có thể nhận thức được những sai lầm lớn của mình và tiến hành sửa chữa chúng. Trong các nước dân chủ, đảng cầm quyền và chính phủ không được phép sử dụng tiền thuế của nhân dân để chi cho các phương tiện thông tin đại chúng chuyên ca ngợi mình.

7. Cho phép tự do lưu hành ở đại lục sách báo được in trên những lãnh thổ đã được trao trả là Hồng Kông và Ma Cao. Nước ta đã tham gia WTO, và về mặt kinh tế đã hội nhập với thế giới – những biện pháp nhằm giữ nguyên tình trạng bế quan toả cảng về mặt văn hoá là đi ngược lại đường lối đã được hoạch định nhằm mở cửa và cải cách. Hồng Kông và Ma Cao ở ngay bên cạnh chúng ta, cung cấp cho chúng ta thí dụ về quyền văn hoá tiến bộ hơn; sách báo từ Hồng Kông và Ma Cao được nhân dân ta đón nhận và tin tưởng.

8. Thay đổi chức năng của các cơ quan tuyên truyền, chuyển chúng từ các cơ quan đưa ra rất nhiều những điều “cấm kị” thành các cơ quan bảo vệ tính chính xác, hợp thời và luân chuyển thông tin mà không bị cản trở; từ cơ quan cộng tác với các quan chức tham nhũng bằng cách ngăn chặn và kiểm soát những thông tin phản ánh sự thật thành cơ quan ủng hộ các phương tiện thông tin đại chúng trong việc kiểm tra các cơ quan của Đảng và chính phủ; từ các cơ quan cấm đoán xuất bản, sa thải biên tập viên và bắt bớ phóng viên thành cơ quan chống lại quyền lực, bảo vệ các phương tiện thông tin đại chúng và bảo vệ phóng viên. Bộ máy tuyên truyền của chúng ta đã gây ra nhiều nỗi kinh hoàng, cả trong Đảng lẫn trong xã hội. Họ phải làm việc vì chính lợi ích nhằm giành lại thanh danh của chính mình. Một một thời điểm thích hợp, chúng ta có thể xem xét, đổi tên các cơ quan tuyên truyền cho phù hợp với xu hướng quốc tế.

Chúng tôi khẩn thiết bày tỏ nguyện vọng và mong được toàn bộ sự lưu tâm của quý vị.

Ngày 1 tháng 10 năm 2010

Do Lí Duệ (李锐), Hồ Tích Vĩ (胡绩伟) và những người khác chấp bút.

_____________

23 người kí tên:

Lý Duệ (李锐): Nguyên phó Ban Tổ chức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá 12 Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Hồ Tích Vĩ (胡绩伟): Nguyên Chủ nhiệm Nhân dân Nhật báo, uỷ viên Thường vụ Quốc hội lần thứ 7, Giám đốc Hiệp hội các Viện Truyền thông Trung Quốc

Giang Bình (江 平): Nguyên Giám đốc Trường Chính trị và Luật học, giáo sư, uỷ viên Thường vụ Quốc hội Khóa 7, phó Ban Luật pháp Quốc hội

Lý Phổ (李普): Nguyên phó Giám đốc Tân Hoa xã

Chu Thiệu Minh (周绍明): Nguyên Vụ phó Vụ Chính trị, Quân khu Quảng Châu

Chung Bái Chương (锺沛璋): Nguyên Trưởng phòng tin tức của Ban Tuyên huấn Trung ương

Vương Vĩnh Thành (王永成): Giáo sư trường Đại học Giao thông Thượng Hải

Trương Trung Bồi (张忠培): Nghiên cứu viên Bảo tàng Cố cung, Chủ tịch Hội Khảo cổ Trung Quốc

Đỗ Quang (杜光): Nguyên giáo sư Trường Đảng Trung ương

Quách Đạo Huy (郭道晖): Nguyên Tổng Biên tập tạp chí Luật học Trung Quốc

Tiêu Mặc (萧 默): Nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kiến trúc trực thuộc Viện Nghệ thuật Dân tộc Trung Quốc

Trang Phổ Minh (庄浦明): Nguyên phó Giám đốc Nhân dân Nhật báo

Hồ Phủ Thần (胡甫臣): Nguyên Giám đốc và Tổng Biên tập Nhà xuất bản Lao động Trung Quốc

Trương Định (张定): Nguyên Giám đốc phòng Thông tin Khoa học Xã hội thực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc

Vu Hữu (于友): Nguyên Tổng Biên tập Trung Quốc nhật báo

Âu Dương Kình (欧阳劲): Nguyên Tổng Biên tập tờ Tạp chí Thái Bình Dương ở Hồng Kông

Vu Hạo Thành (于浩成): Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Quần chúng

Trương Thanh (张清): Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Điện ảnh Trung Quốc

Du Nguyệt Đình (俞月亭): Nguyên Giám đốc Hãng Truyền hình Phúc Kiến, nhà báo lão thành

Sa Diệp Tân (沙叶新): Nguyên Giám đốc Viện Sân khấu và Nghệ thuật Nhân dân Thượng Hải, hiện là nhà văn độc lập của dân tộc Hồi

Tôn Húc Bồi (孙旭培): Nguyên Giám đốc Viện Nghiên cứu Tin tức thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc

Tân Tí Lăng (辛子陵): Nguyên Trưởng Ban Biên tập, Đại học Quốc phòng Trung Quốc

Thiết Lưu (铁流): Tổng Biên tập tạp chí Vãng sự vi ngân (Những vết thương quá khứ)

Cố vấn pháp luật: Tống Nhạc (宋岳): Công dân Trung Quốc, luật sư hành nghề tại New York, Hoa Kì.

_____________

Nguồn: Dịch theo bản tiếng Anh tại: http://cmp.hku.hk/2010/10/13/8035/

Bản tiếng Việt của Phan Đằng Giang