Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010

Và đây nữa...

Tiêu Quốc Tiêu
Thảo phạt Ban Tuyên huấn Trung Ương
Nguyễn Thành Tiến dịch
Ban Tuyên huấn TW là cơ quan của TW ĐCS Trung Quốc chuyên lãnh đạo công tác văn hoá, tuyên truyền, dư luận, báo chí… (được mệnh danh là “Thái thượng hoàng” của báo chí). trong thời kỳ trước và sau Cách mạng Văn hoá, Mao Trạch-đông (Mao) đã từng gọi Ban Tuyên huấn TW do Lục Định-nhất, Chu Dương… lãnh đạo là “Điện Diêm vương” bởi nó chuyên bảo vệ phái hữu để chống lại phái tả. Trong lịch sử Trung Quốc, lãnh đạo Ban Tuyên huấn TW thường là vật hy sinh của các cuộc đấu tranh chính trị. Giữ chức vụ trưởng Ban Tuyên huấn TW qua các thời kỳ gồm có: Lục Định-nhất, Tập Trọng-huân, Đào Chú, Trương Bình-hóa, Hồ Diệu-bang, Vương Nhiệm-trọng, Đặng Lực-quần, Chu Hậu-trạch, Đinh Quang-căn, Vương Nhẫn-chí…Trưởng Ban Tuyên huấn TW hiện nay là Lưu Vân-sơn.

Ông Tiêu Quốc-tiêu, Giáo sư khoa Báo chí Đại học Bắc-kinh, đã đứng trên lập trường của ĐCS Trung Quốc phê phán Ban Tuyên huấn TW bằng một bài viết khoảng 14 ngàn từ. Sau đây là phần nội dung cốt lõi nhất.
Chỗ “thắt cổ chai” trên con đường phát triển văn minh của xã hội Trung Quốc là gì? – Là Ban Tuyên Huấn TƯ (đại diện cho cả hệ thống tuyên huấn).

Kẻ vác đá ghè chân mình là ai? Là Ban Tuyên Huấn TƯ.

Ai đã dung dưỡng bao che cho những phần tử hủ bại? Là Ban Tuyên Huấn TƯ.

Vậy nó nói lên điều gì? Tất cả mọi người đều biết ở Trung Quốc không có nhiều tự do báo chí, thậm chí là rất ít. Thử hỏi ai đã cân đong bớt xén quyền tự do vốn rất ít ỏi ấy của báo chí Trung Quốc? Chính Ban Tuyên Huấn TƯ.

Mức độ tự do báo chí là thước đo của văn minh xã hội. Các nhà triết học tiền bối phương Tây đã nói: “Có thể không có chính phủ nhưng không thể không có tự do báo chí”. Ban Tuyên Huấn TƯ đã coi báo chí như kẻ thù, ngay cả 4 chữ “tự do báo chí” cũng không được phép dùng tùy tiện. Điều đó chứng tỏ là họ đã chà đạp lên những chuẩn mực tối thiểu nhất của văn minh. Ban Tuyên Huấn TƯ đã rơi vào “cái lô-cốt” ngu muội và lạc hậu nhất. Những niềm tin, nỗi buồn đạt được bằng sự lãnh đạo của Ban Tuyên Huấn TƯ đồng thời cũng làm cho hình tượng của Đảng và Chính phủ cùng những văn minh tiến bộ của đất nước phải trả giá đắt.

Nếu như cứ chấp nhận sự hoành hành vô lối của Ban Tuyên Huấn TƯ, tiếp tục gây tai họa cho đất nước, thì không chỉ riêng nó vĩnh viễn rơi xuống địa ngục, mà sự nghiệp cải cách vĩ đại của Trung Quốc sẽ tan thành mây khói, hàng triệu trí thức nhân văn cũng sẽ không ngẩng cao đầu lên được. Do đó, chúng ta phải “xả thân phấn đấu để thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ”.


14 chứng nan y của Ban Tuyên Huấn TƯ

Thứ nhất: Dùng phép phù thủy làm phương pháp công tác

Hôm nay không được nêu vụ Tưởng Ngạn Vĩnh, ngày mai không được nhắc lại vụ dịch SARS, ngày kia cấm đăng việc này việc nọ, không được nói báo chí là “công cụ xã hội”... đại loại như vậy. Thử hỏi những lệnh cấm ấy của Ban Tuyên Huấn TƯ là từ đâu và do đâu? những cái “không được” của họ là vô căn cứ, hoàn toàn ngẫu nhiên, mang tính áp đặt, chúng không dựa theo một chuẩn mực cơ bản nào của văn minh nhân loại cả, mà trái với những kiến thức khoa học cơ bản.

Thứ hai: Vận dụng uy quyền của giáo hội La Mã

Nói đúng ra thì Ban Tuyên Huấn TƯ hiện tại chẳng khác gì Giáo hội La Mã hồi Trung cổ: Quyền lực đầy mình, độc ác và đẫm máu; kẻ nào chống lại thì ít nhất cũng phải chịu “sứt đầu mẻ trán”, nếu như không bị voi giày cọp xé. Báo chí giám sát chỗ này chỗ nọ nhưng đâu dám giám sát Ban Tuyên Huấn TƯ. Họ đã xử lí biết bao phóng viên, tổng biên tập nhưng nào có mấy ai dám ho he? Lẽ nào họ xử đúng cả? Hiện nay các Bộ và Ban Ngành của Chính phủ đều hoạt động đúng luật, tuy mức độ chấp hành pháp luật có khác nhau nhưng dù sao thì cũng có luật để mà theo; còn Ban Tuyên Huấn TƯ ra lệnh thì chẳng theo luật nào cả. Như vậy ở Trung Quốc duy nhất chỉ có Ban Tuyên Huấn TƯ là hoạt động không theo luật, họ là “vương quốc tối tăm” mà ánh sáng của “mặt trời pháp luật” không chiếu tới.

Thứ ba: Đơn giản chữ viết theo kiểu Nhật

Trong lịch sử, việc đơn giản chữ viết ở Nhật Bản đã từng xâm nhập vào Trung Quốc, biến “xâm nhập” thành “tiến xuất”. Ban Tuyên Huấn TƯ không coi đó là điều bất cập, mà bảo không nên nhắc lại cái sai của lịch sử. Những cụm từ gợi lại nỗi đau của đất nước như: “cuộc đấu tranh chống hữu khuynh”, “cách mạng văn hoá”, “sự kiện Thiên An Môn (1989)”, “hàng chục triệu nông dân chết đói”… đều là những cụm từ nên tránh sử dụng. Tất cả những cái đó khiến cho báo giới và các nhà học thuật không thể nào chấp nhận được còn dân chúng thì cảm thấy đau lòng, tuyệt vọng.

Thứ tư: Sát thủ của Hiến pháp

Tự do ngôn luận (báo chí-xuất bản) là quyền được Hiến pháp nước CHND Trung Hoa bảo hộ. Theo đạo lý thì Ban Tuyên Huấn TƯ đã là cơ quan tuyên truyền của ĐCS Trung Quốc thì phải là người bảo vệ quyền tự do ngôn luận ấy. Nhưng trên thực tế họ lại là kẻ xâm hại nặng nề nhất quyền tự do ngôn luận. Họ đã dùng trăm phương ngàn kế chà đạp lên quyền tự do ấy. Cho nên, muốn bảo vệ Hiến pháp thì không thể không “thảo phạt” Ban Tuyên Huấn TƯ.

Thứ năm: Phản bội lý tưởng cao cả của ĐCS Trung Quốc

Những năm 40 của thế kỷ XX, thời kỳ đấu tranh chống chế độ chuyên chế Quốc dân đảng là thời kỳ vẻ vang huy hoàng nhất của ĐCS Trung Quốc. Vậy mà học giả Tiếu Tú tập hợp lại những bài xã luận đã đăng trên “Tân Hoa nhật báo” Trùng Khánh, “Giải phóng nhật báo” Diên An… phát hành trong thời kỳ đó để in thành sách “Những tiếng nói đầu tiên của lịch sử” thì lại bị Ban Tuyên Huấn TƯ cấm đoán. Những tiếng nói tự do dân chủ trong thời kỳ đó đối với Trung Quốc là rất có ý nghĩa, chúng đại biểu cho những bài viết có phương hướng văn hoá tiến bộ, vậy mà nay lại bị Ban Tuyên Huấn TƯ cấm xuất bản, thì cũng đủ chứng tỏ họ là kẻ thù của lý tưởng ban đầu của ĐCS Trung Quốc rồi.

Thứ sáu: Truyền bá tư duy chiến tranh Lạnh

Câu nói bất hủ của Mao: “Phàm là những gì kẻ thù phản đối thì ta ủng hộ, phàm là những gì kẻ thù ủng hộ thì ta phản đối” đến nay vẫn là phương châm được Ban Tuyên Huấn TƯ vận dụng để chỉ đạo báo chí tuyên truyền và coi đó là “kim chỉ nam” cho hành động.

Thứ bảy: Cắt xén, cản trở thực hiện tinh thần chỉ đạo của Trung ương chứ không phải quán triệt tinh thần ấy

Có một số đồng chí nhà báo thường lên Ban Tuyên Huấn TƯ để “lãnh chỉ” hoặc nghe huấn thị đã phát biểu: Một khi anh đã lên Ban Tuyên Huấn TƯ nghe huấn thị thì anh sẽ cảm thấy tình hình Trung Quốc rối tung rối mù, rất nghiêm trọng, trái hẳn với tinh thần của Trung ương; anh sẽ biến thành kẻ đầu têu cắt xén, cản trở, phủ định, thậm chí chống lại tinh thần của Trung ương. Những người gây ra chuyện đó không phải là Đài Loan, Hồng Kông; không phải là bọn tham nhũng hay phần tử hải ngoại “vận động dân chủ” và thân nhân của những người tử nạn trong “sự kiện Thiên An Môn” mà chính là Ban Tuyên Huấn TƯ của ĐCS Trung Quốc.

Thứ tám: Bệnh “Máu lạnh và nhược trí”

Ban Tuyên Huấn TƯ thậm chí đã chỉ trích báo chí thông tin về nỗi oan khuất của quần chúng. Phản ảnh việc nhân dân gửi đơn hoặc đi khiếu nại tố cáo thì sao có thể coi là gây mất ổn định xã hội cơ chứ? Không phản ảnh, để tích tụ lâu ngày mới là nguyên nhân gây mất ổn định xã hội. Hàng ngày, phải đối mặt với những nỗi oan chồng chất của nhân dân, họ không những không động lòng mà còn trách báo chí phản ảnh thái quá thì quả là hạng người có trái tim đá và dòng máu lạnh! So với 1,3 tỷ nhân dân Trung Quốc, những người đi khiếu nại tố cáo chỉ là thiểu số thì làm sao có thể gây mất ổn định xã hội kia chứ? Huống hồ, 80-90% trong số đó đều là những người hiền lành, chứ những kẻ cơ hội quá khích thì căn bản không làm như vậy. Những lời chỉ trích của Ban Tuyên Huấn TƯ sẽ chẳng bao giờ giải quyết được tận gốc nạn khiếu kiện.

Thứ chín: Chỗ dựa cho kẻ bạo tàn, hư hỏng

Năm ngoái, giới báo chí đều nhận được 25 điều chỉ thị “không được đăng báo” do Ban Tuyên Huấn TƯ “phùng mang trợn mắt” phun ra. Trong đó có “không được đăng” vụ Trưởng ban Tuyên huấn tỉnh ủy Vân Nam bị “song quy” (theo chỉ thị của Trung ương, những cán bộ “có vấn đề” đều phải được làm rõ trong một thời hạn và tại một địa điểm quy định). Tại sao không được đăng báo? Điều “không được đăng” này làm cho báo giới cả nước lấy làm tiếc, còn kẻ hư hỏng thở phào nhẹ nhõm. Đúng là “Hoà thượng che ô, vô pháp vô thiên!” Thử hỏi tất cả những người coi trọng chính nghĩa rằng như vậy có chịu nổi không?

Thứ mười: “Ăn quả quên người trồng cây”

Báo giới được Ban Tuyên Huấn TƯ quản lý chặt như bó giò, cứ tưởng họ sẽ bảo vệ mình nhưng không ít nhà báo bị trù dập mà không thấy họ nâng đỡ hoặc lên tiếng. Họ có vô số biện pháp để quản lý, uốn nắn nhà báo nhưng khi nhà báo bị hàm oan, muốn được họ giúp đỡ, minh oan thì họ rụt đầu lại chẳng khác gì một con rùa!

Thứ mười một: Ra vẻ quý tộc nhưng là nô lệ của đồng tiền.

Họ luôn tùy tiện ngăn cản báo chí thực hiện chức năng giám sát bằng dư luận bởi một tiếng “ngừng” với một lý do đàng hoàng là “tránh gây mất ổn định xã hội”. Nhưng trong nhiều trường hợp, đó là cuộc trao đổi giữa quyền và tiền, là dùng quyền lực để thu “tô”, là được kẻ xấu nhờ vả. Họ mượn quyền quản lý báo chí được Đảng và Nhà nước giao phó nhằm làm giảm bớt tai họa để trục lợi cá nhân. Như vậy, mỗi lần ngăn cản báo chí đưa tin là một lần họ dung túng cho một hoặc nhiều kẻ xấu, một lần duy trì tai họa. Họ bán rẻ hình tượng của Đảng và Nhà nước để đổi lấy những lợi ích phi pháp.

Thứ mười hai: Kẻ thù ghét những người tài đức, ai tỏ ra vượt trội thì “diệt”, ai ủng hộ chính nghĩa thì “chôn sống”

Hiện nay ở Trung Quốc không có loại sách bán chạy, nếu có cuốn nào bán chạy thì lập tức bị Ban Tuyên Huấn TƯ “đốt” ngay. Họ luôn có lý do đàng hoàng mà lòng dạ thì vô cùng đen tối. Cấm một cuốn sách hay, bán chạy là bóp ngẹt sức sáng tạo của dân tộc Trung Hoa. “Bịt miệng” được một nhà báo, một học giả hay một tờ báo tâm huyết với chính nghĩa là làm nhụt chí khí của xã hội Trung Quốc. Sở dĩ hiện tại ở Trung Quốc tinh thần sáng tạo cạn kiệt, đạo đức suy đồi, chính nghĩa co cụm, ác bá hoành hành, chính khí lụn bại… thì 99% là trách nhiệm của Ban Tuyên Huấn TƯ.

Thứ mười ba: Nhân vật thứ 2 tạo ra hiểm họa khiến quần thể suy yếu

Tại sao người lao động bị nợ lương triền miên mà chỉ có Thủ tướng Ôn Gia Bảo ra tay thì mới được giải quyết? Ban Tuyên Huấn TƯ cấm đoán báo chí thông tin, việc nợ lương không lọt vào tầm mắt quốc dân thì giải quyết sao được? Tại sao việc dân khiếu kiện kéo dài hàng chục năm không dứt? Tại Ban Tuyên Huấn TƯ che đậy tội ác. Những điều bất cập trong công tác kế hoạch hoá dân số vẫn tiếp tục tái diễn do báo chí không được phép thông tin. Kẻ xấu không sợ quan chức mà chỉ sợ đạo đức chính trị và đạo đức xã hội. Báo chí Trung Quốc vốn có thể làm một vạn điều tốt cho dân, hạn chế đều là tai họa; chỉ tại Ban Tuyên Huấn TƯ ngu muội, lạc hậu trong phương thức tư duy và bá đạo, võ đoán trong cách làm việc nên đã cấm đoán hết 9999 điều.

Thứ mười bốn: Ban Tuyên Huấn TƯ biến Tổng biên tập các cơ quan báo chí thành những người vô cảm, phi chính nghĩa và thiếu văn hoá

Mỗi lần nghe họ giáo huấn xong, người ta thấy mình như vừa thoát nạn, bởi dường như họ đang lội ngược dòng thời đại. Nhìn bề ngoài, các Tổng biên tập thấy mình vẫn còn nguyên vẹn nhưng nội tâm đã bị tổn thương rất nhiều. Những lời giáo huấn của các Tổng biên tập đã làm tổn thương hoàn toàn khả năng chống vô cảm, sự đồng cảm với chính nghĩa và văn minh của họ. Gây ra sự vô cảm là tai họa lớn nhất thế giới; chà đạp lên sự đồng cảm với chính nghĩa là sự chà đạp tàn bạo nhất thế giới.


Thượng sách và hạ sách cứu Ban Tuyên Huấn TƯ

Thượng sách là trượt tiêu Ban Tuyên huấn các cấp. Nước Mỹ có Ban Tuyên huấn không? Nước Anh có không? Châu Âu có không? – Tất cả đều không có. Vậy ai có Ban Tuyên huấn? Đức Quốc Xã có và đã từng xuất hiện một vị Trưởng ban lừng danh là Tiến sĩ Goebbels với câu nói bất hủ của ngài: “Lặp lại một ngàn lần nói dối sẽ biến thành lời nói thật!”. Trong thời kỳ Tưởng GiớI Thạch thống trị Trung Quốc cũng có Ban Tuyên huấn. Trọng tâm tuyên truyền của thời kỳ đó chỉ gói gọn trong câu: “Cộng sản nghĩa là dùng chung tài sản và vợ”. Chúng còn gọi đội quân của Mao-Chu (Ân Lai) là “Cộng phỉ”. Về bản chất, Ban Tuyên Huấn TƯ luôn chống lại lý luận duy vật cuả chủ nghĩa Mác. Phương châm hành động của họ là “Việc tốt tự nó phát sinh; việc xấu tự nó mất đi; việc tốt, bé sẽ thành lớn; việc xấu, lớn sẽ hóa bé…” Họ lẫn lộn trắng đen, chẳng hiểu khách quan là gì và luôn đi ngược lại tinh thần thực sự cầu thị. Nếu không nhận thức được bản chất công việc của Ban Tuyên Huấn TƯ sẽ là tội ác, là tai họa, là biểu hiện của Đảng và Chính phủ đang tự xa rời dân chúng. Nếu chính phủ Trung Quốc thấy hình ảnh của mình không mấy đẹp đẽ trên chính trường thế giới thì trước hết hãy hỏi tội Ban Tuyên Huấn TƯ. Tính chất và phương thức làm việc của họ đều không hội nhập được với nền văn minh hiện đại.

Hạ sách là phải soạn thảo một “Bộ luật về công tác Tuyên huấn” để họ cứ theo đó mà làm, khỏi phải vận dụng phép thuật phù thủy. Cũng có thể cho phép họ làm việc theo mô thức công tác hiện hành, nhưng phải có quy chế giám sát chặt chẽ để họ không làm việc máy móc như Giáo hội La Mã.


4 biện pháp cụ thể

Biện pháp I: Thiết lập một hạng mục chuyên nghiên cứu học thuật để tính công-tội cho Ban Tuyên Huấn TƯ

Thử xem trong giai đoạn lịch sử vừa qua, hệ thống tuyên huấn trong cả nước đã làm được những gì, những vị Trưởng ban nào là công thần của dân tộc Trung Hoa, những vị nào là tội phạm; công thần thì đưa lên bàn thờ, tội phạm thì cho xuống địa ngục. Có thể gạt bàn tính để tính ngược từ vị Trưởng ban đương nhiệm là Lưu Vân Sơn và Cát Bỉnh Cán rồi Đinh Quang Căn, Vương Nhẫn Chi, Từ Duy Thành…

Biện pháp II: Yêu cầu Ban Tuyên Huấn TƯ lập sổ nhật ký công tác

Ban Tuyên Huấn TƯ nhất thiết phải có sổ nhật ký để ghi rõ toàn bộ công việc hàng ngày. Hôm nay đã ra lệnh phong toả nào, ngày mai sẽ tung “con chủ bài” nào, tất cả đều phải ghi cụ thể vào sổ để giám sát và sau này còn đối chiếu, truy cứu trách nhiệm, để lịch sử phán xét có công hay có tội, nên thưởng hay nên phạt. Hiện đang có một tình trạng khá phổ biến là để khỏi phải chịu trách nhiệm, khỏi bị lịch sử phán xét, người ta thường ra “lệnh cấm” bằng điện thoại. Cần phải kiên quyết ngăn cái trò quỷ không lưu lại bút tích này. Đứng trước một việc xấu, báo chí chuẩn bị đưa ra ánh sáng thì Ban Tuyên Huấn TƯ liền gào lên trong điện thoại: “Phải cứu người, không được đăng báo!”. Các nhà nghiên cứu phải hết sức quan tâm tới việc này, ngoài những lý do đàng hoàng “cần phải giữ ổn định” ra thì để ý quan sát kỹ xem có “sự trao đổi quyền-tiền” không?

Phải truy vấn xem tại sao anh ta lại hăng hái bao che cho người xấu? Văn hào Lỗ Tấn đã từng nói: “Tôi không bao giờ đem những ác ý tồi tệ đổ lên đầu người Trung Quốc cả”. Nhưng chúng ta có lý do để làm điều này đối với Ban Tuyên Huấn TƯ bởi những cú điện thoại bảo dừng của họ. Mỗi cú điện thoại ấy, họ nhận được bao nhiêu tiền của kẻ xấu? “Thành thật thì khoan hồng, kháng cự thì nghiêm trị”, thực tiễn đã dạy, chúng ta cần ghi nhớ!

Biện pháp III: Xây dựng chế độ truy phạt những việc làm sai của Ban Tuyên Huấn TƯ

Đã có chế độ truy cứu trách nhiệm đối với những công trình xây dựng bị “rút ruột”, thì những việc làm sai của Ban Tuyên Huấn TƯ còn tai hại hơn nhiều; do đó cũng cần phải áp dụng chế độ truy cứu trách nhiệm. Nói cách khác, công trình siêu cấp về hình thái ý thức mà bị “rút ruột” thì hậu quả khủng khiếp biết chừng nào, vì vậy, không thể cho qua. Từ trước đến nay, Ban Tuyên Huấn TƯ đã phát động biết bao chương trình hành động phản cái này, chống cái nọ. Bây giờ nhìn lại thấy tức cười, rõ là trò ma! Vậy mà chẳng thấy ai dám đứng lên chịu trách nhiệm về những trò ma ấy cả.

Biện pháp IV: Công khai hoá hoạt động của Ban Tuyên Huấn TƯ

Việc này khiến báo chí có thể đăng kịp thời những chỉ thị của Ban “yêu cầu không được đăng báo”, hoặc phát chúng lên mạng. Ban Tuyên Huấn TƯ cũng nên có nghĩa vụ pháp định như thế để nhân dân cả nước có thể đánh giá lệnh nào của Ban là chính xác, là công đức; lệnh nào là tội ác, là phản văn minh, là hại dân hại nước. Các Tổng biên tập báo chí sau khi nghe những lời răn dạy của Ban Tuyên Huấn TƯ, nếu thấy có những điểm nào trái với kiến thức thông thường của xã hội văn minh, thì hãy tự giác đưa nó lên mạng. Ác quỷ luôn sợ ánh sáng. Các vị sợ gì mà không phơi bày tính kiêu ngạo lộng hành, luôn cho mình là đúng của Ban Tuyên Huấn TƯ. Các vị cứ việc nói những điều mà sau khi nghe họ giáo huấn các vị cảm thấy chưa thoả đáng, không chính xác, thậm chí là phản động, dù đó là “vấn đề bí mật, cấm không được nói”.

Theo một số Tổng biên tập kể lại, về cơ bản thì những lời răn dạy của Ban Tuyên Huấn TƯ thường không theo lý tính, không phù hợp với thường thức văn minh, cũng không liên quan gì đến trách nhiệm của báo chí; thậm chí, cũng có trường hợp gần như lưu manh, vô lại, theo giọng điệu của anh hàng thịt; nó thể hiện tính hách dịch, bá quyền.

Hệ thống báo chí Trung Quốc lớn đến thế mà cống hiến chẳng được bao nhiêu cho dân mình. Nguồn gốc của tai họa ấy thuộc về ngành Tuyên huấn. Họ đã làm suy giảm chức nang giám sát của báo chí, vì chức quyền mà quay ngược bánh xe lịch sử.


Hãy đánh bật gốc rễ cực tả

Những năm qua trên báo chí thường có câu: “Với lý do như mọi người đã biết, tin này bị cắt bỏ”. Thế nào là “lý do như mọi người đã biết”? – Đó là sự can thiệp của Ban Tuyên Huấn TƯ. Vì “lý do như mọi người đã biết” mà tin không được đăng báo, trên thực tế mặc dù đó là hoang đường, ngu muội, thậm chí là phản động, nhưng buộc phải nghe theo. Điều này chứng tỏ Ban Tuyên Huấn TƯ có đặc quyền đổi trắng thay đen, cưỡng bức thông tin, biến hươu thành ngựa, bất chấp đạo lý, chà đạp văn minh. Cái hoang đường như mọi người đều biết ấy có quyền lực rất lớn, thần thánh cũng không thể xâm phạm, không thể đảo ngược; hàng chục vạn nhà báo, hàng trăm vạn trí thức, chẳng ai dám ra mặt phản đối, dù chỉ nửa lời. Quả là điều sỉ nhục về nhân cách đạo đức của người Trung Quốc.

Ban Tuyên Huấn TƯ tại sao lại ngược ngạo đến thế? Đó là di sản lịch sử mà lịch sử cực tả đã giao cho họ. Từ thời Vương Minh, Khang Sinh, Diêu Văn Nguyên, Trương Xuân Kều đến nay, Ban Tuyên Huấn TƯ luôn được hưởng quyền miễn trách cứ về đạo đức và chính trị. Họ chẳng phải chịu trách nhiệm gì cả, chẳng phải chịu phản tỉnh, chẳng việc gì phải sám hối, cũng chẳng tự vấn lương tâm. Đường lối chính trị thay đổi, nhân sự thay đổi, nhưng Ban Tuyên Huấn TƯ là một bộ máy “hồng và độc ác” thì vẫn được giữ nguyên. Xưa nay nó chưa hề được “thanh toán”, vai trò của nó luôn bất biến, phương thức tư duy và phương thức làm việc chưa ai đụng đến, tính cực tả và loạn nghịch của nó vẫn còn nguyên. Cần phải thanh toán mọi tội lỗi của Ban Tuyên Huấn TƯ trong các thời kỳ lịch sử như đã thanh toán Vương Minh, Khang Sinh, Diêu Văn Nguyên, Trương Xuân Kiều! Cần phải hiểu rằng Trung Quốc là của mỗi người dân Trung Quốc, là mảnh đất sống của con cháu muôn đời, ai cũng có quyền sổng tự do, diễn đạt tự do, ăn nói tự do.


14 lý do thảo phạt

Lý do thứ nhất: Chủ tịch Mao đã nói: “Tất cả bọn phản động đều là hổ giấy. Thoạt nhìn thì chúng rất đáng sợ nhưng trên thực tế thì chẳng có gì ghê gớm. Về lâu dài có thể thấy sức mạnh thật sự không thuộc về bọn phản động, mà thuộc về nhân dân”. Báo chí cũng đã có lần gọi Ban Tuyên Huấn TƯ là “phái phản động” rồi. Họ phản động ra sao thì ai cũng biết; họ phản động một cách trắng trợn, lộ liễu, không cần phải giấu diếm.

Lý do thứ hai: Đó là quyền lợi Hiến pháp của chúng ta. Nước cộng hoà không cần có hổ, Nước cộng hoà không cần có thánh vật, nước cộng hoà cũng không cần có thánh nhân như Hồng y giáo chủ.

Lý do thứ ba: Tôi văn minh, cao thượng hơn Ban Tuyên Huấn TƯ. Họ đã xô đẩy Đảng và Chính phủ vào chỗ bất nghĩa. Mỗi chỉ thị “không được” do họ đưa ra đều là kết tinh của sự ngu muội, đều trái với sự nghiệp của Đảng và Chính phủ.

Lý do thứ tư: Tôi không thể chịu nổi việc họ chà đạp lên những thường thức văn minh nhân loại. Họ không cho phép báo chí dùng từ “công dân” mà phải dùng từ “bà con”; không muốn các từ “tự do dân chủ” xuất hiện nhiều trên mặt báo; trong Hiến pháp có thể dùng, trong Báo cáo chính trị của Đại hội XVI (ĐCS Trung Quốc) có thể dùng, còn những người bình thường thì chớ. Điều này chứng tỏ những từ “tự do dân chủ” chỉ được dùng để trang trí. Vấn đề đó có ý nghĩa gì? – Đó là kẻ thù của nhân loại, kẻ thù của văn minh, kẻ thù của dân chủ và kẻ thù của tự do! Đó là “mâu thuẫn giữa địch và ta”. Ban Tuyên Huấn TƯ không phải là người quán triệt tư tưởng “Ba đại diện”, mà là đại biểu cho sự ngu muội, lạc hậu, đại biểu cho khuynh hướng văn hoá tù đọng, trầm luân của loài người.

Lý do thứ năm: Tôi có cái đức ham sống. Tôi không chịu nổi khi nhìn thấy bộ máy Ban Tuyên Huấn TƯ tự hủy diệt mình, càng không chịu nổi việc phải nghe lời các vị để tiếp tục hủy diệt những tinh hoa của đất nước.

Lý do thứ sáu: Trưởng các Ban Ngành khác cùng với đơn vị mình có thể trở thành đối tượng “mổ xẻ” của báo chí. Công việc của Chủ tịch nước và Thủ tướng chính phủ có thể bị “phê phán”, vậy dựa vào đâu mà Ban Tuyên Huấn TƯ không bị “chất vấn nọ kia”? Các ngành tư pháp, công an, đường sắt, lao động và bảo hiểm xã hội… cùng các vị Bộ trưởng đều đã từng bị báo chí chất vấn, trách cứ. Nhất là ngành đường sắt, năm nào cũng bị bàn dân thiên hạ la ó, bủa vây như phường săn vây sói.

Lý do thứ bảy: Phó Ban Tuyên Huấn TƯ là ông Cát Bỉnh Cán, người Hà Nam. Cuối năm 2003, ông này liên tục phát ra 23 chỉ thị “không được”… Người Hà Nam mà nắm hình thái ý thức khiến nhân dân không an tâm. Xưa nay Hà Nam là tỉnh bị thiên tai nhiều nhất Trung Quốc. Sở dĩ Hà Nam bị nhiều thiên tai căn bản là do các quan chức địa phương quá nhạy cảm với hình thái ý thức. Chúng ta không thể để cho môi trường dư luận cả nước bị “Hà Nam hoá”.

Lý do thứ tám: Đây là một cảm nhận văn chương của tôi. Lương Khải-siêu đã phát triển đời sống văn hoá đến đỉnh điểm; Hồ Thích phát triển Bạch thoại đến tầm cao; Từ Chí Quyền phát triển Thơ mới đến thượng tầng; Lỗ Tấn đưa Tạp văn lên chót vót. Lý Ngao, Bá Dương, Vương Nê, Khổng tử, Mạnh tử, Tào Tuyết Cần… Đường-Tống bát đại gia đều đã quy tiên, nhưng những đỉnh cao của họ đều là những cống hiến lớn lao cho ngữ văn Hán và dân tộc Hán. Tôi cũng muốn đem cảm nhận văn chương của mình về những thứ không phải là vùng cấm mà bị lãng quên ấy lên đỉnh cao hơn để khắc họa thêm một vài đường nét về sự phát triển của ngữ văn Hán và dân tộc Hán. “Thư sinh báo quốc vô trường vật, Duy hữu thủ trung bút như đao [1] ”.

Lý do thứ chín: Sự cổ vũ của các bậc tiền bối. 360 năm trước, ông John Milton có tác phẩm “Bàn về quyền tự do xuất bản”; 150 năm trước, K. Marx có tác phẩm “Nhận xét về lệnh kiểm duyệt sách báo của nước Phổ”; 1.500 năm trước, Robin Hood có “Hịch dấy binh”… tất cả, lời lẽ đều ngắn gọn nhưng đanh thép. Lương Khải Siêu đã từng chửi vọng Viên Thế Khải về cái gọi là Quốc thể; các nhà lãnh đạo phong trào “Ngũ Tứ” thì kêu gọi “đánh đổ Khổng gia điếm!”; Trương Lý Loan thì khái quát về “nhân sinh quan của Tưởng Giới Thạch”, còn Quách Mạt Nhược lại kêu gọi “hãy thử nhận xét Tưởng Giới Thạch trong hiện tại”; Chuyên Tư Niên có bài “Tống Tử Văn coi bộ không ra đi không ổn”,… Việc đánh đổ “Hoàng thân quốc thích” sách thời nào cũng có, tôi chỉ muốn nói thêm một câu là “Cát Bỉnh Căn không ra đi không ổn” hoặc gào lên một tiếng là hãy “thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ”. So với các bậc tiền bối thì điều đó có kém chi? Nhưng trên thực tế chỉ là chuyện nhỏ. Hơn nữa, báo chí nước ngoài đang suốt ngày la hét: “Tổng thống không xứng đáng, mau cút về vườn đi!” hoặc “Bộ trưởng tệ quá, hãy xéo cho khuất mắt!” Tôi không tin rằng nhân dân Trung Quốc cũng hô to “thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ” vì như thế là nghịch đạo, đáng tội chết. Người lính không muốn trở thành tướng là người lính tồi; người trí thức không muốn trở thành John Milton không phải là người trí thức giỏi. Tôi muốn bài “Thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ” nảy trở thành văn kiện lịch sử trong sử sách Bưu Bỉnh giống như “Bàn về quyền tự do xuất bản”, “Nhận xét về lệnh kiểm duyệt sách báo của nước Phổ”…

Lý do thứ mười: Ao ước để phúc cho con cháu. Cứu Ban Tuyên Huấn TƯ là khởi nguồn Tự do, hạnh phúc cho đời sau. “Cộng sản”, “Dân chủ” phải chăng đã trở thành sự bưng bít, tai họa nặng nề? Chừng nào mới kết thúc?

Lý do thứ mười một: Người sơ trở thành thân. Anh làm báo chí, tôi nghiên cứu công tác báo chí, công việc của anh là đối tượng nghiên cứu của tôi. Chúng ta vốn cùng một nhà, cùng chịu trách nhiệm trước sự hưng thịnh của một “ông chủ” – đó là dân tộc Trung Hoa. vậy chúng ta hãy cùng chung một chí hướng, coi Tổ quốc là cha mẹ, đồng bào là anh em!

Lý do thứ mười hai: Căn cứ vào sinh thái học. Bọ ngựa bắt ve sầu, chim sẻ đứng phía sau, tiếp theo là ruồi nhặng. Quyền lực sinh ra tiêu cực, quyền lực tuyệt đối sinh ra tiêu cực tuyệt đối. Ban Tuyên Huấn TƯ đang có thứ tiêu cực đó nhưng tại sao không bị giám sát? Ai dám bảo đảm họ không tiêu cực? Sinh thái học thường thức không thể nào giải thích nổi điều này.

Lý do thứ mười ba: Ai rồi cũng phải chết, vậy mà tôi không muốn sống. Tôi muốn thay đổi Hiến pháp, Luật Hình và các bộ luật khác của nước CHND Trung Hoa, muốn thảo phạt cả Ban Tuyên Huấn TƯ, điều đó chưa đáng là tội chết. Là “tội sống” thì chẳng có gì đáng sợ, chỉ phải ngồi tù thôi, phải không? Ngồi tù thì khác với kiểu “đãi ngộ Tân thành”. “Ngồi Tân thành” là gửi thân xác vào ngân hàng, có lãi và không bị mất giá. Bây giờ trong số những nhân vật cũ có tên tuổi, ai mà đã không từng “ngồi Tân thành”?... Thảo phạt Ban Tuyên Huấn TƯ thúc đẩy văn minh xã hội đương đại của Trung Quốc là công lao vô cùng to lớn, xứng mặt anh hùng, cũng giống như các bậc tiền bối đã nêu trên, đáng được lưu danh sử sách.

Lý do thứ mười bốn: Tôi rất nhạy cảm với nỗi khổ, nhưng lại khá thờ ơ với lẽ phải. Hai việc khiếu kiện với nợ lương, ai bảo điều đó gây mất ổn định xã hội, báo chí không được phản ánh, thì tôi rất ghét. Hôm Tết tôi nằm mơ đi chơi Di Hoà Viên, thấy có người chết đuối, để lại đôi giày, hoá ra đó là đôi giày của tôi. Tôi đã nhảy xuống hồ Côn Minh tự vẫn.

Trong đôi giày của tôi có bức thư gửi chủ tịch Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo. Đại ý như sau: Tại sao các vị không ra lệnh giải quyết tình trạng nợ lương công nhân? Tại sao các vị không gồng mình lên giải quyết vấn đề khiếu kiện? Hôm nay tôi sẽ chết cho các vị xem! Năm tới mà còn nợ lương với khiếu kiện thì ở dưới âm phủ tôi vẫn không nguôi giận các vị đâu! Xem kìa, tôi đang “thử chết” trong giấc mơ để phản đối chính phủ thờ ơ với tình trạng khiếu kiện và nợ lương!

Xem thêm về Tiêu Quốc Tiêu (Jiao Guobiao) và bài “Thảo phạt…” http://www.zonaeuropa.com/01814.htm

Đọc thêm...

Ngày 1 tháng 10 năm 2010

Kính gửi các ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Điều 35 Hiến pháp Trung Quốc, thông qua vào năm 1982, nói rõ: “Công dân nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do diễu hành và biểu tình”. Đã 28 năm nay điều khoản này vẫn chưa được thực thi vì bị những qui định và luật lệ cụ thể “bổ sung” khác phủ nhận. Nền dân chủ giả hiệu, về hình thức thì thừa nhận nhưng trong những sự việc cụ thể lại chối bỏ dân chủ, là một biểu hiện đáng hổ thẹn trong lịch sử của nền dân chủ thế giới.

Ngày 26 tháng 2 năm 2003, tại cuộc hội thảo về dân chủ giữa Uỷ ban Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và các đảng dân chủ khác, trước khi nhậm chức, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đã tuyên bố một cách rõ ràng: “Bãi bỏ hạn chế báo chí, mở rộng ý kiến công khai, là quan điểm chính thống và đòi hỏi của xã hội; điều đó là đương nhiên và phải được giải quyết thông qua thủ tục lập pháp. Nếu Đảng Cộng sản không tự cải cách, không chuyển hoá, thì nó sẽ mất sức sống và dẫn đến diệt vong”.

Ngày 3 tháng 10, Fareed Zakaria của đài CNN đã phỏng vấn Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Trả lời câu hỏi của nhà báo, Thủ tướng Ôn Gia Bảo nói: “Tự do ngôn luận là tuyệt đối cần thiết đối với mọi dân tộc, Hiến pháp Trung Quốc cho người dân tự do ngôn luận, đòi hỏi dân chủ của nhân dân là không thể ngăn chặn được”.

Phù hợp với Hiến pháp Trung Quốc và tinh thần của những lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo, chúng tôi xin trình bày những điều có liên quan tới việc thực thi quyền hiến định về tự do ngôn luận và tự do báo chí như sau:

Về hiện trạng của quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí ở nước ta

Chúng ta đã có 61 năm làm “chủ nhân ông” của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Nhưng quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí mà chúng ta được hưởng còn thấp hơn là dân chúng ở thuộc địa Hồng Kông từng được hưởng. Đấy là nói trước khi khu vực này được trả về cho Trung Quốc.

Trước khi được trao trả, Hồng Kông là thuộc địa của Anh, do chính phủ được Nữ hoàng Anh chỉ định cai trị. Nhưng quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí mà chính quyền Anh dành cho dân chúng Hồng Kông thì không phải là lời nói suông, chỉ có trên giấy tờ. Các quyền đó đã được ban hành và được thực thi.

Khi đất nước ta được thành lập vào năm 1949, nhân dân ta hô lên rằng họ đã được giải phóng, họ là chủ nhân ông của chính mình. Mao Trạch Đông nói rằng “Từ phút này trở đi, nhân dân Trung Quốc đã đứng lên”. Nhưng ngay trong ngày hôm nay, 61 năm sau khi thành lập nước cộng hoà, 30 năm sau mở cửa và cải cách, chúng ta vẫn chưa đạt được mức độ tự do ngôn luận và tự do báo chí mà người dân dưới chính quyền thuộc địa ở Hồng Kông được hưởng. Ngay cả hiện nay, nhiều tác phẩm thảo luận về chính trị và những vấn đề thời sự vẫn phải xuất bản ở Hồng Công. Đấy không phải là chuyện xảy ra từ ngày lãnh thổ này được trao trả mà là chiến lược cũ rích của chính quyền thuộc địa. Địa vị “ông chủ” của nhân dân Trung Quốc lục địa thật quá thấp kém. Vì vậy mà việc nước ta tự quảng bá mình là “nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” mang đặc tính Trung Quốc đã gây nhiều bối rối.

Không chỉ các công dân bình thường mà ngay cả những nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản cũng không có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Gần đây Lý Duệ đã gặp hoàn cảnh như sau. Cách đây không lâu, cuốn Tập hợp các bài viết tưởng niệm Chu Tiểu Châu được xuất bản, trong đó có tiểu luận của Lý Duệ viết về Chu Tiểu Châu, đã được đăng trên tờ Nhân dân Nhật báo năm 1981. Phu nhân của Chu Tiểu Châu gọi điện cho Lý Duệ và giải thích tình hình như sau: “Bắc Kinh đã thông báo. Không được đăng bài viết của Lý Duệ”. Chuyện nực cười không thể tưởng tượng được là một bài viết cũ trên báo Đảng lại không được phép đưa vào tuyển tập! Lý Duệ nói: “Đây là đất nước kiểu gì vậy? Tôi muốn thét lên: Phải có tự do báo chí! Bóp nghẹt quyền tự do thể hiện của nhân dân như vậy là hoàn toàn phi pháp!”

Không chỉ các cán bộ cao cấp, ngay cả Thủ tướng nước ta cũng không có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí! Ngày 21 tháng 8 năm 2010, Thủ tường Ôn Gia Bảo, trong bài nói chuyện ở Thâm Quyến dưới nhan đề: “Chỉ có thúc đẩy cải cách dân tộc ta mới có tương lai tươi sáng”, đã nói: “Chúng ta phải thúc đẩy không chỉ cải cách kinh tế mà còn đẩy mạnh cải cách chính trị nữa. Không được cải cách chính trị che chở, chúng ta sẽ đánh mất các thành quả do cải cách kinh tế mang lại và mục tiêu hiện đại hoá của chúng ta cũng sẽ không trở thành hiện thực được”. Bản tin chính thức của Tân Hoa xã cũng ngày 21 tháng 8, nhan đề “Xây dựng tương lai tươi đẹp cho đặc khu kinh tế”, không đăng nội dung liên quan đến cải cách chính trị của Thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Ngày 22 tháng 9 năm 2010 (giờ Hoa Kỳ), ở New York, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã có cuộc nói chuyện với báo chí Trung Quốc tại Hoa Kỳ và báo chí Hồng Kông cũng như Ma Cao, ở đây ông lại nhấn mạnh tầm quan trọng của “cải cách hệ thống chính trị”. Thủ tướng Ôn nói: “Liên quan đến cải cách chính trị, trước đây tôi đã nói rằng cải cách kinh tế mà không được thành quả của cải cách chính trị bảo vệ thì chúng ta sẽ không thu được thắng lợi hoàn toàn và có thể những thành quả mà chúng ta đạt được cho đến nay cũng sẽ bị mất”. Ngay sau đó, Ôn Gia Bảo đã phát biểu tại kì họp lần thứ 65 của Đại Hội đồng Liên hiệp quốc với bài diễn văn mang tên: “Nhận thức nước Trung Hoa đích thực”, trong đó ông lại nhắc đến cải cách chính trị. Ngày 23 tháng 9 (giờ Bắc Kinh) các sự kiện này được đưa lên chương trình Thời sự của Đài Truyền hình Trung ương và Tân Hoa xã cũng đưa tin. Nhưng họ chỉ tường thuật nhận xét của Ôn Gia Bảo về những hoàn cảnh mà người Trung Quốc ở hải ngoại phải đương đầu cũng như tầm quan trọng của các phương tiện thông tin của Trung Quốc ở hải ngoại mà thôi. Đoạn nói về cải cách chính trị đã bị lược bỏ.

Vì những nguyên nhân đó, nếu chúng ta định tìm những người chịu trách nhiệm, chúng ta sẽ không chỉ ra được người nào cụ thể. Đấy là những bàn tay bẩn vô hình. Vì những lí do mà chỉ có họ mới biết, họ đã vi phạm hiến pháp, họ thường ra lệnh bằng điện thoại rằng không được công bố tác phẩm của tác giả này hay tác giả kia, không được tường thuật trên các phương tiện thông tin đại chúng sự kiện này hay sự kiện kia. Người gọi điện không để lại tên, hoàn toàn bí mật, nhưng phải lưu ý đến chỉ thị của họ. Đấy là những bàn tay bẩn từ Ban Tuyên huấn Trung ương, nằm trên cả Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản và trên cả Hội đồng Nhà nước. Chúng tôi xin hỏi, Ban Tuyên huấn Trung ương có quyền gì mà lại cấm bài nói của Thủ tướng? Nó có quyền gì mà tước đoạt quyền của nhân dân, không cho họ được biết Thủ tướng đã nói những gì?

Yêu cầu cốt lõi của chúng tôi là giải tán hệ thống kiểm duyệt nhằm thúc đẩy hệ thống trách nhiệm pháp lí.

Quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí được điều 35 Hiến pháp bảo đảm đã bị những biện pháp bổ sung, thí dụ như “Điều lệ quản lí xuất bản” biến thành thành vật trang trí. Những qui định bổ sung này, nói chung, chính là hệ thống kiểm duyệt và cấp phép. Không thể liệt kê hết những chỉ thị và cấm đoán nhằm ngăn chặn tự do ngôn luận và tự do báo chí. Ban hành luật báo chí và bải bỏ hệ thống kiểm duyệt đã trở thành nhiệm vụ khẩn cấp đối với chúng ta.

Chúng tôi đề nghị Quốc hội tiến hành ngay việc soạn thảo Luật báo chí và bãi bỏ ngay “Điều lệ quản lí xuất bản” cũng như tất cả những hạn chế do các địa phương ban hành đối với tin tức và xuất bản. Nói theo pháp luật, việc thực thi quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí như được bảo đảm trong Hiến pháp có nghĩa là làm cho các phương tiện thông tin đại chúng độc lập đối với Đảng và các cơ quan của chính phủ, là những cơ quan đang kiểm soát chúng, và như thế cũng có nghĩa là chuyển “những cái loa của Đảng” thành “công cụ của công luận”. Vì vậy, cơ sở cho việc soạn thảo Luật báo chí phải là hệ thống trách nhiệm pháp lí trên thực tế. Chúng ta không thể lại tìm cách củng cố hệ thống kiểm duyệt nhân danh “củng cố sự lãnh đạo của Đảng”. Hệ thống kiểm duyệt là hệ thống, theo đó phải được sự chấp thuận của các cơ quan của Đảng thì mới được xuất bản, chỉ xuất bản sau khi đã được chấp chuận và coi tất cả những tài liệu đã xuất bản mà không được chấp thuận đều là phi pháp hết. Hệ thống trách nhiệm pháp lí nghĩa là tài liệu được xuất bản không cần phải được sự chấp thuận của các cơ quan của Đảng hay chính phủ, mà có thể xuất bản sau khi tổng biên tập cho là phù hợp. Nếu có những hậu quả tiêu cực hay tranh cãi sau khi xuất bản thì chính phủ có thể can thiệp và quyết định, phù hợp với luật pháp, xem có phạm pháp hay là không. Trên thế giới, sự phát triển của chế độ pháp trị trong lĩnh vực tin tức và xuất bản đều đi theo con đường như thế, tức là chuyển từ hệ thống kiểm duyệt sang hệ thống trách nhiệm pháp lí. Không nghi ngờ gì rằng hệ thống trách nhiệm pháp lí tiến bộ hơn hệ thống kiểm duyệt và rất có lợi cho sự phát triển các môn khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên, và thúc đẩy sự hài hoà xã hội và tiến bộ. Nước Anh đã bỏ chế độ kiểm duyệt từ năm 1695. Nước Pháp bỏ chế độ kiểm duyệt từ năm 1881, sau thời gian đó chỉ cần đại diện của cơ quan xuất bản viết một tờ khai rồi gửi cho văn phòng biện lí của chính phủ là có thể xuất bản báo và tạp chí rồi. Hệ thống kiểm duyệt hiện nay của chúng ta làm cho việc công bố tin tức và xuất bản sách ở nước ta đi chậm hơn Anh 315 năm và chậm hơn Pháp 129 năm.

Chúng tôi đòi hỏi những điều sau đây:

1. Bãi bỏ việc tài trợ các cơ quan truyền thông nhà nước [Ghi chú: Đó là tổ chức kiểm soát, thực hiện việc kiểm tra của Đảng đối với các phương tiện thông tin đại chúng]; cho phép các cơ quan xuất bản hoạt động độc lập; áp dụng hệ thống, trong đó giám đốc và tổng biên tập chịu trách nhiệm đối với đơn vị xuất bản của mình.

2. Tôn trọng các nhà báo và củng cố vị trí độc lập của họ. Nhà báo phải là “vua không ngai”. Tường thuật những vụ việc có đông người tham gia và vạch trần những vụ tham nhũng là công việc cao quí, công việc này phải được bảo vệ và ủng hộ. Chấm dứt ngay lập tức những hành vi trái pháp luật của các chính quyền địa phương và của công an trong việc bắt giữ các nhà báo. Xem xét lại trường hợp bắt giữ nhà văn Tạ Triêu Bình (谢朝平). Liên quan đến vụ này, bí thư đảng uỷ thành phố Vị Nam (渭南)Lương Phượng Dân (梁凤民) phải bị thi hành kỉ luật Đảng, đấy cũng là lời cảnh cáo đối với những người khác.

3. Bãi bỏ việc hạn chế tự do trong hoạt động phóng sự điều tra dư luận ngoại tỉnh, đảm bảo quyền thực hiện phóng sự điều tra của các phóng viên trong cả nước.

4. Internet là diễn đàn thảo luận quan trọng để chuyển tải tin tức trong xã hội và tiếng nói của người dân. Ngoài những tin tức thực sự liên quan đến bí mật quốc gia và những chuyện xâm phạm quyền riêng tư cá nhân, các cơ quan quản lí internet không được tự ý xoá những bài viết và bình luận đã được đưa lên mạng. Gián điệp mạng phải bị bãi bỏ, “đảng năm xu” [chỉ những người viết bài ủng hộ nhà nước, mỗi bài được trả 5 xu] cũng phải bị bãi bỏ và những hạn chế đối với công nghệ “vượt tường lửa” [chống kiểm duyệt] cũng phải bị bãi bỏ.

5. Không còn những điều cấm kị liên quan đến lịch sử Đảng. Công dân Trung Quốc có quyền biết những sai lầm của đảng cầm quyền.

6. Tuần báo Nam Phương Chu Mạt và tạp chí Viêm Hoàng Xuân Thu cần được tái cơ cấu dưới hình thức thử nghiệm tư nhân. Tư hữu hoá báo và tạp chí là xu hướng tự nhiên của công cuộc cải cách chính trị. Lịch sử dạy chúng ta: khi kẻ cai trị và người ban hành chính sách liên kết chặt chẽ với nhau, khi cả chính phủ lẫn các phương tiện thông tin đại chúng cùng mang tên là “Đảng”, và khi Đảng hát cho mình nghe thì khó liên hệ được với nguyện vọng của nhân dân và thực hiện được sự lãnh đạo đúng đắn. Từ giai đoạn “Đại nhảy vọt” đến “Cách mạng Văn hoá”, báo, tạp chí, đài phát thanh và truyền hình ở Trung Quốc lục địa không bao giờ phản ảnh nguyện vọng của nhân dân. Lãnh đạo Đảng và chính phủ không nhận được những tiếng nói phản biện của nhân dân cho nên khó có thể nhận thức được những sai lầm lớn của mình và tiến hành sửa chữa chúng. Trong các nước dân chủ, đảng cầm quyền và chính phủ không được phép sử dụng tiền thuế của nhân dân để chi cho các phương tiện thông tin đại chúng chuyên ca ngợi mình.

7. Cho phép tự do lưu hành ở đại lục sách báo được in trên những lãnh thổ đã được trao trả là Hồng Kông và Ma Cao. Nước ta đã tham gia WTO, và về mặt kinh tế đã hội nhập với thế giới – những biện pháp nhằm giữ nguyên tình trạng bế quan toả cảng về mặt văn hoá là đi ngược lại đường lối đã được hoạch định nhằm mở cửa và cải cách. Hồng Kông và Ma Cao ở ngay bên cạnh chúng ta, cung cấp cho chúng ta thí dụ về quyền văn hoá tiến bộ hơn; sách báo từ Hồng Kông và Ma Cao được nhân dân ta đón nhận và tin tưởng.

8. Thay đổi chức năng của các cơ quan tuyên truyền, chuyển chúng từ các cơ quan đưa ra rất nhiều những điều “cấm kị” thành các cơ quan bảo vệ tính chính xác, hợp thời và luân chuyển thông tin mà không bị cản trở; từ cơ quan cộng tác với các quan chức tham nhũng bằng cách ngăn chặn và kiểm soát những thông tin phản ánh sự thật thành cơ quan ủng hộ các phương tiện thông tin đại chúng trong việc kiểm tra các cơ quan của Đảng và chính phủ; từ các cơ quan cấm đoán xuất bản, sa thải biên tập viên và bắt bớ phóng viên thành cơ quan chống lại quyền lực, bảo vệ các phương tiện thông tin đại chúng và bảo vệ phóng viên. Bộ máy tuyên truyền của chúng ta đã gây ra nhiều nỗi kinh hoàng, cả trong Đảng lẫn trong xã hội. Họ phải làm việc vì chính lợi ích nhằm giành lại thanh danh của chính mình. Một một thời điểm thích hợp, chúng ta có thể xem xét, đổi tên các cơ quan tuyên truyền cho phù hợp với xu hướng quốc tế.

Chúng tôi khẩn thiết bày tỏ nguyện vọng và mong được toàn bộ sự lưu tâm của quý vị.

Ngày 1 tháng 10 năm 2010

Do Lí Duệ (李锐), Hồ Tích Vĩ (胡绩伟) và những người khác chấp bút.

_____________

23 người kí tên:

Lý Duệ (李锐): Nguyên phó Ban Tổ chức Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá 12 Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Hồ Tích Vĩ (胡绩伟): Nguyên Chủ nhiệm Nhân dân Nhật báo, uỷ viên Thường vụ Quốc hội lần thứ 7, Giám đốc Hiệp hội các Viện Truyền thông Trung Quốc

Giang Bình (江 平): Nguyên Giám đốc Trường Chính trị và Luật học, giáo sư, uỷ viên Thường vụ Quốc hội Khóa 7, phó Ban Luật pháp Quốc hội

Lý Phổ (李普): Nguyên phó Giám đốc Tân Hoa xã

Chu Thiệu Minh (周绍明): Nguyên Vụ phó Vụ Chính trị, Quân khu Quảng Châu

Chung Bái Chương (锺沛璋): Nguyên Trưởng phòng tin tức của Ban Tuyên huấn Trung ương

Vương Vĩnh Thành (王永成): Giáo sư trường Đại học Giao thông Thượng Hải

Trương Trung Bồi (张忠培): Nghiên cứu viên Bảo tàng Cố cung, Chủ tịch Hội Khảo cổ Trung Quốc

Đỗ Quang (杜光): Nguyên giáo sư Trường Đảng Trung ương

Quách Đạo Huy (郭道晖): Nguyên Tổng Biên tập tạp chí Luật học Trung Quốc

Tiêu Mặc (萧 默): Nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kiến trúc trực thuộc Viện Nghệ thuật Dân tộc Trung Quốc

Trang Phổ Minh (庄浦明): Nguyên phó Giám đốc Nhân dân Nhật báo

Hồ Phủ Thần (胡甫臣): Nguyên Giám đốc và Tổng Biên tập Nhà xuất bản Lao động Trung Quốc

Trương Định (张定): Nguyên Giám đốc phòng Thông tin Khoa học Xã hội thực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc

Vu Hữu (于友): Nguyên Tổng Biên tập Trung Quốc nhật báo

Âu Dương Kình (欧阳劲): Nguyên Tổng Biên tập tờ Tạp chí Thái Bình Dương ở Hồng Kông

Vu Hạo Thành (于浩成): Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Quần chúng

Trương Thanh (张清): Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Điện ảnh Trung Quốc

Du Nguyệt Đình (俞月亭): Nguyên Giám đốc Hãng Truyền hình Phúc Kiến, nhà báo lão thành

Sa Diệp Tân (沙叶新): Nguyên Giám đốc Viện Sân khấu và Nghệ thuật Nhân dân Thượng Hải, hiện là nhà văn độc lập của dân tộc Hồi

Tôn Húc Bồi (孙旭培): Nguyên Giám đốc Viện Nghiên cứu Tin tức thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc

Tân Tí Lăng (辛子陵): Nguyên Trưởng Ban Biên tập, Đại học Quốc phòng Trung Quốc

Thiết Lưu (铁流): Tổng Biên tập tạp chí Vãng sự vi ngân (Những vết thương quá khứ)

Cố vấn pháp luật: Tống Nhạc (宋岳): Công dân Trung Quốc, luật sư hành nghề tại New York, Hoa Kì.

_____________

Nguồn: Dịch theo bản tiếng Anh tại: http://cmp.hku.hk/2010/10/13/8035/

Bản tiếng Việt của Phan Đằng Giang

Bài phỏng vấn cần đọc

Zakaria: Ông có cho rằng vào thời điểm này nền kinh tế thế giới đã vững mạnh hay ông đang rất lo lắng về mối đe doạ của cái gọi là khủng hoảng kép, đặc biệt là cơn khủng hoảng ở Hoa Kỳ có thể quay lại?

Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo (qua phiên dịch): Nói một cách khách quan, tôi cho rằng nền kinh tế thế giới đang hồi phục, mặc dù quá trình hồi phục thì đầy chậm chạp và khúc khủy. Mọi người chắc không có cùng một quan điểm về việc này, nhưng tôi tin rằng chúng ta sẽ học được bài học từ thực tế.

Tôi hy vọng rằng nền kinh tế Hoa Kỳ sẽ được phục hồi nhanh chóng vì nói cho cùng nó là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Tôi đã lưu ý đến những chính sách và biện pháp gần đây của Tổng thống Obama bao gồm kế hoạch nhân đôi sản lượng xuất khẩu của Hoa Kỳ và sự đầu tư khổng lồ vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng.

Tôi cho rằng những chính sách và biện pháp này đang đi đúng đường, đúng hướng. Mặc dù chúng được đưa ra hơi trễ, chúng vẫn vừa đúng lúc. Điều này làm tôi nhớ đến thời gian tôi đã đưa ra quyết định quan trọng về việc thông qua gói kích cầu khổng lồ tại Trung Quốc. Vào lúc đó, mọi người đã có những cái nhìn khác nhau về chính sách này, nhưng giờ đây kết quả cho thấy gói kích cầu của chúng tôi là một thành công.

Zakaria: Tôi xin hỏi rằng ông đã rút ra được bài học gì từ cơn khủng hoảng tài chính? Ông có cảm thấy mất niềm tin vào sự quản lý kinh tế vĩ mô của người Mỹ không?

Một người bạn Trung Quốc của tôi nói, chúng tôi như những học sinh trong lớp học và chúng tôi luôn lắng nghe những gì người Mỹ khuyên chúng tôi, và giờ đây chúng tôi ngẩng lên và nghĩ rằng có lẽ vị thầy giáo cũng chẳng biết rằng mình đã nói gì.

Ôn Gia Bảo: Khi đối diện với cơn khủng hoảng tài chính, bất cứ ai cảm thấy có trách nhiệm với đất nước cũng như với toàn bộ loài người đều cần rút ra những bài học từ cơn khủng hoảng tài chính.

Theo tôi, bài học lớn nhất mà tôi rút ra được từ cơn khủng hoảng tài chính là khi điều hành những công việc nhà nước, điều quan trọng là cần chú ý đến việc đề cập đến những khó khăn về cơ cấu của nền kinh tế.

Trung Quốc đã đạt được thành công to lớn và sự phát triển của nó được thế giới ca ngợi, nhưng tôi là một trong những người đầu tiên cho rằng sự phát triển kinh tế của chúng tôi vần còn thiếu tính cân đối, hợp tác và bền vững. Cơn khủng hoảng tài chính này đã củng cố quan điểm của tôi về điều này.

Một mặt, chúng tôi phải chặn đứng cơn khủng hoảng tài chính. Mặt khác, chúng tôi cũng phải giải quyết những khó khăn riêng của mình, và chúng tôi phải làm tốt cả hai việc này cùng lúc, đây là một việc rất khó khăn.

Trung Quốc có một thị trường nội địa khổng lồ và có một tiềm năng to lớn về nhu cầu nội địa. Trung Quốc hiện đang ở trong giai đoạn tăng cường tổ chức và công nghiệp hoá. Chúng tôi có thể dựa vào nhu cầu kích thích trong nước để giúp ổn định và phát triển nền kinh tế Trung Quốc đi xa hơn nữa.

Việc này bắt chúng tôi phải chớp lấy thời cơ, tăng tốc phát triển và làm ổn định nền kinh tế Trung Quốc, và trên cơ sở này, chúng tôi phải nghĩ đến tương lai lâu dài để giải quyết tất cả những trở ngại về cơ cấu trong nền kinh tế của mình.

Riêng về nền kinh tế Hoa Kỳ, tôi luôn tin tưởng rằng nền kinh tế Hoa Kỳ có nền tảng vững chắc, không chỉ về khía cạnh vật chất mà quan trọng hơn nữa là Hoa Kỳ có sức mạnh về nguồn tài năng khoa học kỹ thuật cũng như kinh nghiệm quản lý.

Nó đã thu thập được vốn liếng về kinh nghiệm phát triển kinh tế trong suốt 200 năm qua, bất chấp những thay đổi, tôi tin Hoa Kỳ sẽ vượt qua cơn khủng hoảng và những khó khăn, và chúng ta cần tin tưởng vào tương lai của nền kinh tế Hoa Kỳ.

Quá trình phục hồi và phát triển của nền kinh tế lớn nhất trên thế giới, tức là nền kinh tế Hoa Kỳ, nằm trong mối quan tâm của việc phục hồi và ổn định kinh tế thế giới.

Zakaria: Nếu so sánh về tỉ lệ phần trăm GPD giữa nước ông và Hoa Kỳ thì gói kích cầu của ông lớn gấp 10 lần. Đây là một kế hoạch thật đặc biệt. Liệu có mối lo nào về việc nó đang tạo ra một bong bóng về bất động sản tại Trung Quốc không?

Và cùng có những nguy hiểm về lạm phát vì chính phủ đã chi tiêu quá nhiều và vấn đề là hiện nay ảnh hưởng kích cầu sẽ giảm dần, liệu chính phủ sẽ giảm dần việc chi tiêu?

Ôn Gia Bảo: Từ những nhận xét của ông, tôi nghĩ rằng ông đã chưa nhìn nhận hết toàn bộ gói kích cầu của chúng tôi. Tôi muốn nói rằng gói kích cầu của chúng tôi có bốn bộ phận chủ yếu.

Trước tiên là việc chi tiêu công cộng khổng lồ, cơ cấu cắt giảm thuế và phát triển cơ sở hạ tầng. Thứ hai là việc điều chỉnh và nâng cấp cơ cấu công nghiệp ở Trung Quốc. Thứ ba là phát minh khoa học kỹ thuật và việc phát triển những ngành công nghiệp mới có tầm quan trọng chiến lược. Thứ tư là phát triển mạng lưới an sinh xã hội.

Số lượng đầu tư nghiên cứu phát triển bồm 4 nghìn tỉ Mỹ kim không chỉ đến từ mỗi chính phủ . Đầu tư chính phủ chỉ chiếm khoảng 1,18 nghìn tỉ, phần còn lại đến từ khu vực phi nhà nước và việc bán trái phiếu từ những thị trường tài chính.

Việc thực thi gói kích cầu đã bảo đảm tính liên tục của sự tăng trưởng vững chắc và tương đối nhanh tại Trung Quốc. Nó đã giúp giữ nguyên mức độ tiến triển tốt của kinh tế Trung Quốc có được trong 30 năm qua, và nó đã giúp chúng tôi tránh được những thay đổi lớn trong quá trình hiện đại hoá Trung Quốc vì những cú sốc quá lớn từ bên ngoài.

Trong cùng lúc đó, nó đã tạo ra được một nền tảng vững chắc cho việc phát triển kinh tế Trung Quốc trong tương lai. Chúng tôi đang rất cảnh giác với thử thách được đề cập trong câu hỏi của ông. Tôi muốn nêu lên ba điểm.

Trước hết, có một khả năng lạm phát ở Trung Quốc. Đấy là vì sao chúng tôi đã đề ra nhiệm vụ phải quản lý một cách khéo léo những mối quan hệ trong việc giữ nguyên nền kinh tế ổn định và phát triển tương đối nhanh, điều chỉnh cơ cấu, và kiểm soát những khả năng lạm phát.

Đây là điều cốt lõi trong việc quản lý kinh tế vĩ mô ở Trung Quốc. Tôi quan tâm về việc kiểm soát những khả năng lạm phát tại Trung Quốc, đây là điều tôi đã cố gắng rất nhiều để quản lý tốt và đúng mức, vì tôi tin rằng tham nhũng và lạm phát sẽ gây nên một ảnh hưởng rất lớn đối với sự ổn định quyền lực của một quốc gia.

Và cả hai điều này đều ảnh hưởng đến lòng tin và đồng thuận của người dân đối với chính quyền, và đây là khía cạnh mà tôi nhìn thấy trong vấn đề lạm phát ở Trung Quốc.

Thứ hai, với việc thực hiện gói kích cầu, sẽ có những đe doạ về ngân sách và tài chính ở chính quyền cấp địa phương.

Chúng tôi có những bộ máy tài chính tại các chính quyền địa phương. Họ có những món nợ nhưng chúng không phải là vấn đề vừa mới nảy sinh sau cơn khủng hoảng tài chính bộc phát mà nó đã bắt đầu tận những năm 1980.

Giờ đây, với những nền tảng tài chính của chính quyền địa phương được thiết lập, chúng đã tích luỹ thành một món nợ khoảng 7,6 nghìn tỉ Nhân Dân Tệ và tôi có thể nói rằng mức nợ cấp địa phương này vẫn còn nằm trong khuôn khổ có thể kiểm soát được, nhưng điều quan trọng là chúng tôi phải giải quyết thoả đáng vấn đề để bảo đảm những món nợ của chính quyền địa phương sẽ không đe dọa nền tài chính nhà nước cũng như khu vực tài chính.

Tỉ lệ thâm thủng ngân sách trên tổng GDP của Trung Quốc là dưới 3 phần trăm. Tổng số nợ của Trung Quốc so với tỉ lệ GDP nằm trong khoảng 20 phần trăm, điều này có nghĩa là nó vẫn nằm trong tầm mức mà chúng tôi có thể kiểm soát được.

Điểm thứ ba là điểm quan trọng hơn cả, đó là tất cả những đầu tư của chúng tôi hiện nay phải tạo lợi thế cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế chứ không phải ngược lại. Điều này ảnh hưởng đến tương lai phát triển lâu dài của chúng tôi, vì thế nó rất quan trọng.

Zakaria: Ông đã viết trong một bài báo về thủ trưởng cũ của ông, Hồ Diệu Bang, khiến tôi rất có ấn tượng. Trong đó ông đã ca ngợi ông ấy. Nhìn lại, ông có nghĩ rằng Hồ Diệu Bang đã là một lãnh đạo tốt của Trung Quốc?

Ôn Gia Bảo: Vâng, tôi nghĩ là tôi đã đánh giá công bình trên phương diện lịch sử đối với nhân vật này. Ông đã có những cống hiến riêng cho quá trình đổi mới và mở cửa của Trung Quốc. Tôi cũng muốn đưa ra ba điểm sau.

Trước hết, ông đã cực lực phát triển cuộc tranh luận chung quanh những tiêu chuẩn dùng để đánh giá sự thật, và qua đó ông đã đóng góp vào nỗ lực giải phóng tư tưởng con người. Thứ hai, đối với những sự phản kháng khác nhau, ông đã tiến hành những bước để trả tự do cho một số đông cán bộ bị cáo buộc trong cuộc cách mạng văn hoá và thứ ba bản thân ông cũng ra tay hành động để thúc đẩy Trung Quốc đổi mới và mở cửa.

Zakaria: Ông đã nói trong những bài phát biểu của mình về việc Trung Quốc vẫn chưa phải là một quốc gia hùng mạnh và sáng tạo trên phương diện kinh tế. Liệu một quốc gia có thể vừa hùng mạnh và sáng tạo với nhiều giới hạn về tự do ngôn luận với việc Internet bị kiểm duyệt? Có phải ông nên mở cửa tất cả nếu ông muốn sự sáng tạo thật sự hay sao?

Ôn Gia Bảo Tôi tin rằng tự do ngôn luận là điều không thể thiếu được đối với bất kỳ quốc gia nào, với một quốc gia đang trên đà phát triển và với một quốc gia đã trở nên hùng mạnh. Tự do ngôn luận đã được bao gồm trong hiến pháp Trung Quốc.

Tôi không nghĩ là ông biết hết về Trung Quốc ở điểm này. Tại Trung Quốc, có khoảng 400 triệu người sử dụng Internet và 800 triệu người sử dụng điện thoại di động. Họ có thể truy cập vào Internet để bày tỏ quan điểm của mình, kể cả những quan điểm chỉ trích.

Tôi thường truy cập vào Internet và đã đọc những chỉ trích mạnh mẽ cũng như những lời lẽ ca ngợi đối với hoạt động của chính quyền.

Tôi thường nói rằng chúng tôi không những nên để người dân có quyền tự do ngôn luận, mà quan trọng hơn nữa là chúng tôi phải tạo điều kiện để họ chỉ trích hoạt động của chính quyền. Chỉ khi có được sự kiểm soát và theo dõi mang tính phê bình của người dân thì chính phủ mới có thể làm việc tốt hơn, và nhân viên các cơ quan chính phủ mới thật sự trở thành công bộc của dân.

Những việc này phải được thực hiện trong khuôn khổ mà luật pháp và hiến pháp cho phép. Từ đó quốc gia mới có được một trật tự bình thường, và điều này vô cùng cần thiết cho một đất nước to lớn như Trung Quốc với 1,3 tỉ người.

Zakaria: Thưa Thủ tướng Ôn, vì chúng ta đang thành thật, khi tôi đến Trung Quốc và tìm cách dùng Interent, có rất nhiều trang mạng bị ngăn chặn. Rất khó để truy tìm thông tin. Bất kỳ quan điểm nào có vẻ thách thức đối với sự thống lĩnh chính trị của đảng đều không được phép? Ví dụ như Hồ Diệu Bang không phải là cái tên được phép nhắc đến trên “Nhân dân Nhật báo” cho đến khi bài báo của chính ông xuất hiện. Dường như mọi cấm đoán với những guồng máy khổng lồ theo dõi Internet sẽ gây khó khăn cho những ai thật sự sáng tạo và thật sự làm được những gì mà ông đang mong muốn họ làm.

Ôn Gia Bảo Tôi tin rằng tôi và tất cả người dân Trung Quốc đều tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục tiến triển, và những ước muốn và nhu cầu của người dân về dân chủ và tự do thì không thể từ chối được. Tôi hy vọng là ông sẽ có thể từ từ nhận thấy sự tiến triển liên tục của Trung Quốc.

Zakaria: Ông đã có hàng loạt những phát biểu đáng quan tâm trong thời gian gần đây. Tôi đã đặc biệt ấn tượng với bài phát biểu của ông tại Thẩm Quyến, ông nói, “bên cạnh cải cách kinh tế, chúng ta phải tiếp tục cải cách chính trị.”

Đây là một điểm mà ông từng nêu ra trong cuộc phỏng vấn trước, nhưng rất nhiều người Trung Quốc mà tôi biết lại nói rằng đã có cải cách kinh tế trong sáu bảy năm qua, nhưng chẳng có nhiều cải cách chính trị.

Ông muốn nói điều gì đến những người lắng nghe những bài phát biểu của ông rồi nói rằng chúng tôi thích mọi thứ Ôn Gia Bảo nói, nhưng chúng tôi chẳng thấy những hành động cải cách kinh tế.

Ôn Gia Bảo: Đúng ra đây là quan điểm do ông Đặng Tiểu Bình thúc đẩy rất lâu trước đây và tôi nghĩ rằng những ai có tinh thần trách nhiệm đối với đất nước mình cần nên nghĩ sâu về chủ đề này, và đặt niềm tin của mình vào hành động.

Tôi cũng đã suy nghĩ sâu kỹ hơn về vấn đề này kể từ lần gặp gỡ cuối cùng của chúng ta. Quan điểm của tôi là một đảng chính trị sau khi trở thành đảng cầm quyền cần phải trở nên tương đối khác so với khi nó đang đấu tranh giành quyền lực.

Khác biệt lớn nhất là đảng chính trị này phải hành xử phù hợp với hiến pháp và luật pháp. Những chính sách và chương trình của một đảng chính trị có thể được chuyển dịch sang thành những phần của hiến pháp và luật pháp qua những tiến trình pháp lý phù hợp.

Tất cả những đảng chính trị, những tổ chức, và tất cả mọi người cần phải tuân thủ hiến pháp và pháp luật mà không có một ngoại lệ nào. Tất cả họ phải hành xử theo đúng với hiến pháp và pháp luật. Tôi cho đây là đặc điểm tối trọng của việc xây dựng hệ thống chính trị hiện đại.

Tôi đã tóm tắt những tư tưởng chính trị của tôi trong bốn câu sau: làm cho mọi người có một cuộc sống hạnh phúc và có nhân phẩm, làm cho mọi người cảm thấy bình yên và an toàn, làm cho xã hội trở nên công bằng và có công lý, và làm cho mọi người có lòng tin vào tương lai.

Bất chấp những tranh luận và quan điểm khác biệt trong xã hội, và bất chấp những phản kháng, tôi sẽ hành động đúng theo những tư tưởng này môt cách kiên định, và phát triển hết khả năng của mình trong việc tái cơ cấu chính trị. Tôi cũng muốn nói với ông hai câu để củng cố vị trí quan điểm của mình, tôi sẽ không đổ ngã trước mưa to gió cả, và tôi sẽ không chùn bước cho đến ngày cuối cùng của đời mình.

Zakaria: Đây là một vấn đề khó khăn: đồng Nhân Dân Tệ. Hãy để tôi đặt vấn đề như thế này, bất chấp sự bảo đảm của Trung Quốc, đồng Nhân Dân Tệ chỉ vẫn được tăng 1,8 phần trăm trong hai năm qua.

Cho phép thêm một lần sụt giá mạnh mẽ không phải là lợi ích của Trung Quốc, bởi vì hiện nay quí vị đang bù giá cho các nhà xuất khẩu bằng cái giá của đồng lương của những người lao động Trung Quốc, quí vị đang mạo hiểm với lạm phát và điều này tạo ra sự thiếu hụt rất lớn về sự cân bằng mà ông đã đề cập. Vậy cho phép tăng giá đồng Nhân Dân Tệ không phải là tốt cho Trung Quốc hay sao?

Ôn Gia Bảo: Cho phép tôi có một nhận định về những gì ông vừa nói. Tôi cho rằng quan điểm của ông cũng đại diện cho quan điểm của Hoa Kỳ hoặc cụ thể hơn là quan điểm của một vài thành viên trong Quốc hội Hoa Kỳ.

Hai nền kinh tế của Trung Quốc và Hoa Kỳ liên quan với nhau rất mật thiết. Trao đổi song phương đã đạt đến mức 300 tỉ Mỹ kim. Đầu tư của Hoa Kỳ vào Trung Quốc đã vượt trên 60 tỉ Mỹ kim. Trung Quốc đã mua công phiếu “T” của Hoa Kỳ trị giá khoảng 900 tỉ Mỹ kim.

Không ai tin rằng giới lãnh đạo Trung Quốc không theo sát những diễn biến của nền kinh tế Hoa Kỳ. Nhưng một số người ở Hoa Kỳ, đặc biệt là những nhân vật ở Quốc hội, lại không biết nhiều về Trung Quốc.

Họ đang chính trị hoá vấn đề trong quan hệ Trung-Mỹ, đặc biệt là trong vấn đề thiếu cân đối mậu dịch giữa hai quốc gia. Tôi rất cảm kích việc ông đã tạo điều kiện cho tôi trong cuộc phỏng vấn này, vì ông đã cho tôi cơ hội để giải thích kỹ lưỡng hơn tình trạng thật sự của vấn đề.

Có ba điểm vốn không được nhiều người biết đến trong vấn đề tỉ giá hối đoái của đồng Nhân Dân Tệ và thặng dư xuất khẩu của Trung Quốc. Trước tiên Trung Quốc không hề theo đuổi tình trạng thặng dư xuất khẩu. Mục tiêu của chúng tôi trong giao dịch với nước ngoài là có được sự trao đổi cân bằng và bền vững với các quốc gia khác, và chúng ti muốn có được sự công bằng cơ bản trong vấn đề cân bằng chi trả.

Đây là những gì chúng tôi đã đang nói và làm. Năm 2008, tỉ lệ thặng dư hiện có lúc đó là 9,9 phần trăm so với GDP. Năm 2009 con số này tụt xuống còn 5,8 phần trăm và vào cuối nửa năm đầu của 2010 nó tụt xuống thấp hơn nữa ở mức 2,2 phần trăm.

Thứ hai, việc tăng cường mức thặng dư mậu dịch của một quốc gia không nhất thiết liên quan đến chính sách hối đoái của quốc gia ấy. Chúng tôi bắt đầu đổi mới chính sách tỉ giá hối đoái của đồng Nhân Dân Tệ vào năm 1994, và kể từ đó, đồng tiền Trung Quốc đã tăng lên 55 phần trăm so với đồng Mỹ kim, và cũng trong cùng thời gian, những đồng tiền của những nền kinh tế chính và những đồng tiền của những quốc gia láng giềng với Trung Quốc đều đã giảm giá với mức độ lớn.

Nghành thương mại của Trung Quốc cũng đã tăng trưởng nhanh trong cùng khoảng thời gian này. Thực sự là trong lịch sử của Hoa Kỳ cũng đã có một thời kỳ như thế. Trong gần 100 năm, từ 1870 đến 1970, Hoa Kỳ đã là một quốc gia thặng dư mậu dịch, và điều này cũng đang thực sự xảy ra đối với một quốc gia đang trong giai đoạn phát triển nào đấy.

Điểm thứ ba là điểm quan trọng nhất mà ông cũng nhận thức được, đó là sự thiếu cân đối trong thương mại giữa hai quốc gia vốn đã mang bản chất chủ yếu về cơ cấu. Trung Quốc có thặng dư mậu dịch trong lĩnh vực gia công nhưng lại bị thâm thủng mậu dịch trên lĩnh vực chung. Trung Quốc có thặng dư trong lĩnh vực hàng hoá, nhưng lại bị thâm thủng trong lĩnh vực dịch vụ.

Chúng tôi có thặng dư mậu dịch với Hoa Kỳ và Liên Âu, nhưng lại bị thâm thủng với Nhật Bản, Nam Hàn và các quốc gia châu Á khác. Nhiều mặt hàng xuất khẩu từ Trung Quốc đã không còn được sản xuất ở Hoa Kỳ, và tôi không nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ bắt đầu tái sản xuất các mặt hàng này, những mặt hàng vốn nằm ở đáy của loại hàng hoá kém giá trị.

Ngay cả nếu quí vị không mua những mặt hàng này từ Trung Quốc, quí vị vẫn phải mua chúng từ Ấn Độ, Sri Lanka, hoặc Bangladesh, và điều này cũng chẳng giải quyết được sự mất cân bằng thương mại giữa hai nước.

Tôi nhớ rằng ông đã đưa ra ví dụ của chiếc iPod tại Hoa Kỳ, ở Mỹ một chiếc iPod được bán với giá 299 Mỹ kim, nhưng nhà sản xuất Trung Quốc chỉ thu được 4 Mỹ kim lệ phí gia công.

Còn một điểm khác nữa mà tôi nghĩ rằng ông không nhận ra, một điểm mà nhiều thành viên của Quốc hội Hoa Kỳ cũng không nhận ra, đó là trong số 500 nghìn công ty Hoa Kỳ đăng ký tại Trung Quốc, 22 nghìn công ty là những nhà xuất khẩu, và áp đặt việc trừng phạt lên các công ty xuất khẩu tại Trung Quốc cũng tương đương với việc áp đặt việc trừng phạt lên những công ty trên.

Zakaria: Lần cuối khi chúng ta trao đổi, tôi đã hỏi ông đang đọc những cuốn sách nào, cuốn nào đã làm ông thích thú. Thế thì có cuốn sách nào mà ông đã đọc trong vài tháng qua đã gây ấn tượng cho ông?

Ôn Gia Bảo: Những cuốn sách trong kệ sách của tôi luôn là những cuốn sách về lịch sử, vì tôi tin rằng lịch sử thì giống như tấm gương và tôi thích đọc lịch sử Trung Quốc lẫn lịch sử của các quốc gia khác.

Có hai cuốn sách mà tôi thường mang theo người, một cuốn là “Lý thuyết về Tình cảm Đạo đức” của Adam Smith. Cuốn thứ hai là “Thiền định”. Không phải là tôi đồng ý với những quan điểm được trình bày trong hai cuốn sách này, nhưng tôi tin rằng những quan điểm và tư tưởng của những thế hệ trước đây là món ăn tinh thần cho thế hệ hiện tại.

Hiện nay có quá nhiều sách hồi ký cá nhân. Tôi không thích đọc những cuốn sách này. Tôi cho rằng những gì con người nên để lại cho thế giới là sự thật và chúng ta phải thừa nhận rằng ngay cả những sự thật một ngày nào đó sẽ bị tan biến.

Zakaria: Tôi xin đưa ra một câu hỏi cuối, thưa Thủ tướng Ôn, tôi rất ấn tượng với sự thẳng thắn của ông. Ông đã nói về quyết tâm của mình trong việc tiếp tục cải cách chính trị, bất chấp sự cản trở trong nước và trong đảng, bất chấp sự phản đối bên trong đảng.

Ông đã nói về sự quan ngại của ông về nạn tham nhũng và lạm phát sẽ xói mòn sự ổn định xã hội. Ông đã ca ngợi Hồ Diệu Bang và đề cập đến tài lãnh đạo của ông ta ngay cả khi ông ta được nhiều người xem là một nhà lãnh đạo cấp tiến nguy nhiểm.

Ông có tin rằng thế hệ lãnh đạo kế tiếp của Trung Quốc, những người sẽ nắm quyền lực trong hai năm tới sẽ chia sẻ quan điểm của ông và tiếp tục xúc tiến hướng nhìn mà ông đang thúc đẩy?

Ôn Gia Bảo: Có thể là ông nghĩ đây là câu hỏi khó nhất dành cho tôi hôm nay, nhưng thực sự tôi cho rằng đây là câu hỏi dễ trả lời nhất.

Để tôi đưa ra hai điểm liên quan đến cái tương lai mà ông vừa đề cập. Trước hết, tôi muốn nói rằng, như câu nói của người Trung Quốc, dòng sông Dương Tử sóng phủ sóng, thế hệ mới chắc chắn sẽ vượt qua thế hệ cũ. Tôi tin tưởng rằng giới lãnh đạo tương lai của Trung Quốc sẽ trội hơn thế hệ trước.

Thứ hai là quần chúng và sức mạnh của quần chúng quyết định tương lai và lịch sử của đất nước. Nguyện vọng và ý chí của quần chúng thì không thể ngăn cản được. Những ai đi theo xu hướng này sẽ thành công và những ai chống lại nó sẽ thất bại. Cám ơn ông về buổi phỏng vấn.

Zakaria: Rất hân hạnh và vui sướng. Xin cám ơn Thủ tướng.