Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2010

30 điều trong Tuyên ngôn Nhân Quyền ngày 10-12-1948

Ngày 10-12-1948 Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mới được ra đời, trong Tuyên Ngôn này gồm có 30 điều, ngay từ điều 1 đã được ghi rằng:
Điều 1: Mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về phẩm giá và quyền hạn. Loài người là sinh vật có lý trí là lương tri, do đó phải đối xử với nhau trong tình anh em.
Điều 2: Tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, văn hóa, giới tính, tôn giáo, quan điểm, lập trường chính trị, nguồn gốc dân tộc, địa vị xã hội, hay bất cứ tiêu chuẩn gì khác, đều có quyền đòi hỏi cho mình các quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này.
Điều 3: Mỗi người đều có quyền sống, quyền tự do và quyền được bảo đảm an ninh cá nhân.
Điều 4: Không một ai có thể bị bắt giữ làm nô lệ hoặc thuộc quyền sở hữu của người khác. Mọi hình thức bắt giữ và buôn bán nô lệ đều bị cấm chỉ.
Điều 5: Không một ai có thể bị tra tấn, bị đội xử hay trừng phạt một cách tàn nhẫn vô nhân đạo hay làm mất nhân phẩm.
Điều 6: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được công nhận tư cách pháp lý tại bất cứ nơi nào.
Điều 7: Mỗi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền đòi hỏi được pháp luật bảo vệ như những người khác. Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được bảo vệ một cách bình đẳng trước mọi sự phân biệt đối xử trái với quy định trong Bản Tuyên Ngôn này.
Điều 8: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được cơ quan lập pháp sở tại bảo vệ trước mọi hành vi xâm phạm các quyền căn bản cá nhân được hiến pháp và luật pháp công nhận.
Điều 9: Không một ai có thể bị bắt bớ, giam cầm hay lưu đầy.
Điều 10: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi một toà án độc lập, chí công vô tư, xét xử công khai về quyền lợi và trách nhiệm của mình, hoặc về một lời cáo buộc mình.
Điều 11: Một người bị cáo buộc có hành vi phạm pháp vẫn được coi là vô tội cho đến khi tội trạng của người ấy được xắc định qua một phiên tòa công khai và vô tư mà người ấy đã được hưởng đầy đủ các biện hộ cần thiết.
Không một ai có thể bị kết án về một hành vi hoặc lỗi lầm mình đã phạm vào thời điểm mà luật quốc gia hoặc luật quốc tế lúc ấy chưa coi là phạm pháp.
Điều 12: Không một ai có thể bị xâm phạm vào đời tư, gia đình, nơi cư trú hay sự trao đổi thư tín, hoặc bị xúc phạm tới danh dự và uy tín. Mỗi người đều có quyền đòi hỏi được luật pháp bảo vệ trước những xâm phạm và xúc phạm đó.
Điều 13: Mỗi người đều có quyền tự do di chuyển và tự do chọn lựa nơi cư trú trong lãnh thổ bất cứ một quốc gia nào. Mỗi người đều có quyền tự do ra đi hoặc trở lại bất cứ một nước nào, kể cả quê hương mình.
Điều 14: Khi bị bách hại vì lập trường hay quan điểm chính trị, mỗi người đều có quyền xin tị nạn tại một quốc gia khác. Nhưng những người bị truy nã vì tội danh không thuộc chính trị, hoặc bị truy bức vì có những hành vi trái với tôn chỉ và mục đích của Liên Hiệp Quốc thì sẽ không được hưởng quyền tị nạn chính trị này.
Điều 15: Mỗi người có quyền mang một quốc tịch. Không một ai có thể bị tước bỏ, cấm đoán hoặc cưỡng bức thay đổi quốc tịch.
Điều 16: Người nam, người nữ có khả năng kết hôn đều có quyền kết hôn và tạo lập gia đình mà không phải bị sự giới hạn nào về chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo. Cả hai được bình quyền khi kết hôn, khi sống chung và khi ly hôn.
Việc kết hôn phải dựa trên sự đồng ý và tự nguyện của các đương sự.
Gia đình là đơn vị tự nhiên và căn bản của xã hội. Gia đình có quyền đòi hỏi được xã hội và quốc gia bảo vệ.
Điều 17: Mỗi người, một mình hay chung với người khác, đều có quyền tư hữu. Không một ai có thể tước bỏ quyền tư hữu của người khác.
Điều 18: Mỗi người đều có quyền tự do về tư tưởng, lương tri và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do thay đổi tôn giáo hoặc tín ngưỡng, tự do hoạt động một mình hay cùng với người khác tại nơi công cộng hoặc ở tư gia để xiển dương hay rao giảng về tôn giáo hoặc tín ngưỡng của mình qua tổ chức nghi lễ thờ phượng hoặc sống theo giáo lý.
Điều 19: Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền tự do này bao gồm tự do phát biểu và bảo vệ ý kiến mà không bị ngăn trở; cũng như quyền tự do thu thập và truyền đạt tin tức và ý tưởng bằng mọi phương tiện và qua mọi biên giới.
Điều 20: Mọi người có quyền tự do lập đoàn thể và hội họp trong tinh thần ôn hòa. Không ai có thể bị cưỡng bách phải gia nhập một hội đoàn nào đó.
Điều 21: Mọi người đều có quyền trực tiếp, hoặc gián tiếp qua người đại diện, tham gia điều khiển sinh hoạt quốc gia. Mọi người đều được bình đẳng trong việc tham gia đảm nhận các trách vụ trong chính quyền của đất nước.
Ý dân là nền móng quyền lực của chính quyền. Ý dân phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ được tổ chức một cách nghiêm túc và công bằng, mọi cử tri đều có quyền bỏ phiếu và tự do hoàn toàn khi chọn bầu người đại diện.
Điều 22: Là một thành viên của xã hội, mỗi người đều có quyền đòi hỏi được bảo đảm về an sinh xã hội.
Điều 23: Mỗi người đều có quyền lao động, quyền tự do chọn nghề, quyền được làm việc trong một môi trường xứng đáng, và quyền được bảo vệ khi thất nghiệp.
Mọi người được hưởng thù lao như nhau cho những công việc giống nhau.
Điều 24: Mỗi người có quyền được nghỉ ngơi, quyền đòi hạn chế một cách hợp lý thời gian làm việc, quyền nghỉ phép một số ngày theo quy định mà vẫn hưởng lương.
Điều 25: Mỗi người đều có quyền đòi hỏi để ít nhất cũng có một mức sống tối thiểu, bảo đảm về sức khoẻ và sự an vui cho gia đình và cho bản thân. Người mẹ và đứa trẻ có quyền đòi hỏi những giúp đỡ và tương trợ đặc biệt.
Điều 26: Mỗi người đều có quyền được học hành. Các cấp sơ cấp và tiểu học phải được miễn phí. Giáo dục phải có mục đích mở mang kiến thức, phát triển nhân cách và tạo ý thức tôn trọng Nhân Quyền.
Điều 27: Mỗi người đều có quyền tham gia vào sinh họat văn hóa cộng đồng, được thưởng lãm nghệ thuật và được hưởng các tiến bộ khoa học. Nếu là tác giả, mỗi người đều có quyền được bảo vệ quyền lợi vật chất và tinh thần do công trình sáng tạo hoặc tác phẩm của mình đem lại.
Điều 28: Mọi người đều có quyền đòi hỏi một môi trường quốc gia và quốc tế thuận lợi cho sự thực thi trọn vẹn các quyền hạn và quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này.
Điều 29: Mỗi người chỉ có bổn phận đối với cộng đồng nào đã giúp mình phát triển nhân phẩm một cách tự do và trọn vẹn.
Điều 30: Không một cá nhân, một tổ chức hoặc một chính quyền nào được diễn giải lệch lạc các quy định trong bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền này rồi tự cho mình quyền huỷ bỏ các quyền hạn và quyền tự do của một người nào đó.
Vào những thế kỷ cận đại gần chúng ta, con người mới từ từ nhận ra tầm quan trong của chính trị, của Nhân Quyền trong đời sống, nó chi phối cuộc sống con người từ A tới Z, nếu chúng ta không có quan điểm đứng đắn về vai trò này. Vì xã hội con người luôn luôn xẩy ra cảnh kẻ mạnh hiếp đáp kẻ yếu, kẻ nắm được quyền hành ức chế kẻ cô thế. Điển hình là trong các thế kỷ 18, 19 con người còn bị mua bán, người có quyền hành, có tiền bạc còn có quyền mua bán người khác làm nô lệ, làm đứa ở, làm việc nhà, làm tôi mọi cho giới giầu có, giới chủ nhân. Người có tiền và có quyền tha hồ bóc lột người làm công, làm nô lệ cho mình. Lúc đó chưa có luật lệ nào bảo vệ quyền làm người cho người nô lộ, cho giới cùng đinh trong xã hội. Nếu có luật thì lại là luật bảo vệ người quyền thế, kẻ có tiền, giới chủ nhân. Từ ngày có cao trào tranh đấu đòi quyền làm người của Mục Sư Luther King cho người da đen ở Mỹ, lúc đó việc mua bán nô lệ trên thế giới mới từ từ được chấm dứt. Khi chưa có Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền, người yếu thế da đen ở các nước Châu Phi bị mua bán ngang hàng như thú vật.
Gandhi (1869-1948) còn có tên gọi là Mahan das Karamchand, chính trị gia và triết gia Ấn Độ, người đã đề xướng phương pháp “tránh đấu bất bạo động, bất hợp tác”, đã áp dụng phương pháp ấy để tranh đấu cho nước Ấn được độc lập khỏi sự đô hộ của người Anh. Nelson Mandela đứng dậy đòi quyền bình đảng giữa người da đen và người da trắng, đòi phân chia đất đai một cách công bằng; cuộc tranh đấu bất bạo động, nhưng lâu dài, đã đem lại quyền bình đẳng cho châu Phi. Là những tấm gương làm chính trị thật trong sáng, đem lại công lý cho người bị phân biệt đối xử, cho quyền làm người.
Những tôn giáo có ảnh hưởng lớn tới nền văn minh của nhân lọai, cũng đã nhận ra tầm quan trọng của việc tham gia vào môi trường chính trị, không những đã khích lệ người tín hữu của mình phải tham gia môi trường này, mà còn viết thành văn bản để làm tài liệu hướng dẫn như trong Hiến Chế về người Tín Hữu Giáo Dân số 42 có viết:
“ Đức ái để yêu thương và phục vụ con người không được tách rời khỏi đức công lý: cả hai theo cách riêng biệt của mình đòi buộc mọi người phải hoàn toàn công nhận thực sự các quyền lợi của con người, vì xã hội với các cơ cấu và thể chế được đặt ra vì con người. Để đem đời sống Kitô hữu vào trật tự trần thế , nghĩa là đem (đem đạo vào đời) theo ý nghĩa là phục vụ con người và xã hội, các tín hữu giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia vào “Chính trị” , nghĩa là vào các hoạt động nhiều sắc thái, kinh tế, xã hội, lập pháp, hành chánh, văn hóa, có mục đích cổ võ công ích một cách có cơ chế. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nhiều lần qủa quyết điều này: mọi người và mỗi người có quyền lợi và bổn phận phải tham gia vào chính trị; việc tham gia này mang nhiều hình thức khác nhau và bổ túc cho nhau, trên nhiều mức độ khác nhau cũng như trong các bổn phận và trách nhiệm khác nhau. Chúng ta thường nghe những nhà cầm quyền, quốc hội, giai cấp cai trị và các đảng phái chính trị bị tố cáo là những kẻ lợi dụng thời cơ, thờ lạy quyền bính, ích kỷ tham nhũng; rồi chúng ta cũng thấy dư luận quần chúng đó đây bảo chính trị chỉ là nơi vô luân lý; tất cả lời khinh khi này không cách nào bào chữa được cho người công giáo trốn tránh chính trị, nghi ngờ việc chung”.
Từ Hiến Chế này đã dần dần đưa đến việc thiết lập Văn Phòng Công Lý và Hòa Bình, rồi từ văn phòng này được nâng lên thành như một cấp Bộ tại Giáo Triều ở Roma, và ngày nay đã lan toả ra khắp thế giới. Tại quốc gia nào có người Công gíáo, có Hội Đồng Giám Mục là có một vị Giám Mục được chỉ định phụ trách Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình. Việt Nam là một nước Cộng Sản, trong kỳ Họp Đại Hội từ 04 đến 08/10/2010 của HĐGMVN cũng đã cử Giám Mục Nguyễn Thái Hợp, GM. Địa phận Vinh phụ trách Ủy Ban này. Dù có trễ cũng còn hơn không, vì nơi đâu chưa có Công Lý, còn bất công thì ở đó chưa có Hòa Bình. Đây là những việc làm cụ thể của các tôn giáo lớn, có ảnh hưởng đến nhân loại quan tâm đến vai trò chính trị trong cuộc sống của con người.

Thứ Tư, 8 tháng 12, 2010

Những hình ảnh phối hợp tiêu hủy cột mốc biên giới Thời kỳ Pháp – Thanh


Diễn Tiến Sự Kiện Thủ Tiêu Cột Mốc Biên Giới TRUNG VIỆT

Nhận thấy dư luận rất quan tâm về sự kiện thủ tiêu các cột mốc (cũ) phân chia biên giới Trung-Việt, là người đã đăng tải sự kiện kèm theo các hình ảnh đầu tiên trong bài viết “Từ lễ tế Mã Viện đến ngày Đảng CSVN cho Hai Bà Trưng mặc váy” (chuyên mục “Chuyện Phải Nói” của Diễn Đàn TGNV ngày 14.11.2010), Chân Mây sẽ trình bày rõ ràng hơn để giải tỏa các thắc mắc và ngờ vực về tính xác thực của sự kiện này.

Những gì đang xảy ra…

Mốc 18 trên Ải Nam Quan mà Đảng CSVN đã bịa đặt nên câu chuyện bị Trung Cộng cho xe tăng ủi nát trong chiến tranh biên giới. Thực tế hình ảnh này cho biết mốc 18 vẫn còn tồn tại trong tấm ảnh chụp của quân Trung Cộng năm 1988


Mốc 19 tại Hà Giang (khu vực núi Đất, tức Lão Sơn) với sự chiếm giữ củaquân đội Trung Cộng năm 1980.

Lãnh thổ bị chiếm đoạt nhưng Đảng CSVN và lực lượng “Quân Đội VN Anh Hùng” đã không dám kháng cự và năn nỉ qua nhiều năm xin đi vào đàm phán.

Năm 1993, hai bên chính phủ CS Trung-Việt bắt đầu đi vào đàm phán các vùng “tranh chấp”. Đến ngày 30.12.1999, hai bên Trung-Việt hoàn thành 16 lần đàm phán và cho ra kết quả là bộ văn bản “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” (中越陆地边界条约). Một phần nội dung “nổi” của văn bản này cho biết rằng có 227Km2 diện tích “tranh chấp” trên dường biên giới Trung-Việt được giải quyết sau đàm phán là …chia đôi: 113Km2 thuộc Việt Nam, 114Km2 thuộc Trung Quốc.

Không khác gì văn bản dâng lãnh hải cho Trung Cộng của Phạm Văn Đồng vào năm 1953, những văn bản giải quyết đường biên giới lục địa Trung- Việt của Đảng CSVN là một trong nhiều vết dơ nhục nhã của Đảng CSVN chàm khắc lên tổ quốc của người Việt Nam và họ, những người người lãnh đạo Đảng CSVN, với kết quả giải quyết tranh chấp đường biên giới như trên vẫn vui mừng đặt thành “thắng lợi”.Khi bộ văn bản “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” hoàn thành, hai bên Trung-Việt tiếp tục đi vào công tác giải tỏa các khu vực gài mìn, tức là những vùng đất biên giới trên lãnh thổ Việt Nam. Một cách tự nhiên, những vùng trong qui hoạch gỡ mìn được dựng bảng bằng tiếng Trung và người dân trong khu vực trở thành công dân Trung Quốc.


Lực lượng công binh Trung Cộng đi vào lãnh thổ Việt Nam (Hà Giang) năm 2002 thực hiện chiến dịch gỡ mìn với sự đón chào niềm nở của Quân Đội NDVN Anh Hùng. Các chữ Trung văn trên đầu xe tải có thể đọc được là: “Vi Nhân Dân Bài Lôi…” (gỡ mìn cho nhân dân…). Nhân dân nào đây?

Các khu tử thần trên núi đồi Việt Nam (vùng Hà Giang) và vô số nạn nhân nay đang được chính phủ Trung Quốc bảo hộ.Lý Văn Vật Hu“Trung Việt Lục Địa Biên Giới Điều Ước” đặt ra 1537 tọa cột mốc biên giới cần thiết lập trên 1347 Km tuyến biên giới Trung-Việt. Vào tháng 9 năm 2002, Cục Đo Đạc Quốc Gia Trung Quốc phái 39 nhân viên kỹ thuật thường trú đến 12 tọa điểm biên giới kết hợp với công binh chính quyền Vân Nam, Quảng Tây và chính phủ CS Việt Nam thực hiện công tác gỡ mìn. Tháng 11 năm 2005 sơ bộ hoàn thành, đến năm 2008 thì tuyên bố hoàn thành công tác gỡ mìn, phân giới, cắm mốc. Ngày 23.2.2009 đặt thành Lễ Hoàn Thành Phân Giới Cột Mốc Trung Việt (Chân Mây đã đưa tin qua bài “Đại Lễ Dâng Ải Nam Quan Cho Trung Cộng”).Tuy nhiên những điều đó chưa phải là chấm dứt. Vào ngày 14.07.2010, phía Trung Cộng tuyên bố các văn kiện phát sinh hiệu lực là “Trung Việt Lục Địa Biên Giới Khám Giới Nghị Định Thư” (中越陆地边界勘界议定书), “Trung Việt Biên Giới Quản Lý Chế Độ Hiệp Định” (中越陆地边界管理制度协定), và “Trung Việt Biên Cảnh Khẩu Ngạn Cập Kỳ Quản Lý Chế Độ Hiệp Định” (中越边境口岸及其管理制度协定). Theo nội dung pháp luật yêu cầu trong nội dung các văn kiện, thì việc trước hết là phải tiến hành bài trừ ngay tất cả các cột mốc cựu thời. Phía Trung Cộng phát lệnh bài trừ các cột mốc cũ bắt đầu tại đoạn Vân Nam, Hà Khẩu vào ngày 20.07.2010, tại đoạn này có tất cả 22 cột mốc đã được bài trừ, hiện tại được biết có các cột 15, 17, 21 đã mang vào lưu trữ vĩnh viễn tại Phòng Quảnyện Hà Khẩu (河口县文物管理所), số còn lại chuyển lên trung ương quản lý. Căn cứ theo tài liệu “Trung Pháp Điều Ước”, 22 cột mốc quốc giới Việt Nam-Trung Hoa tại đoạn Vân Nam được xây dựng trong 12 năm, từ tháng 8 năm 1885 cho đến tháng 6 năm 1897. Khi Trung Cộng tiến hành bài trừ, trên các cột mốc này vẫn còn rõ các chữ “Trung Hoa” và “An Nam”.Tiếp theo đoạn Vân Nam, vào ngày 10.08.2010 tỉnh Quảng Tây tuyên bố đã hoàn thành sứ mệnh bài trừ 33 cột mốc cũ, một nữa số do các địa phương sở hữu bảo tồn, nữa số còn lại phân chia vào quản lý tại Bảo Tàng Quốc Gia Trung Quốc (中国国家博物馆) và Bảo Tàng Quảng Tây (广西博物馆)Hàng trăm trang mạng, báo đài Trung Cộng đang truyền tải sự kiện, nhưng bên Việt Nam thì không ai được biết đến. Vì sao? Không cột mốc cũ nào còn nằm trên lãnh thổ Việt Nam! Đây chính là những chứng cứ không thể chối cãi cho việc mất đất ở biên giới, lãnh thổ bị xâm phạm, mất chủ quyền hàng chục năm và sự đê tiện của Đảng CSVN khi họ vẫn tươi cười bất chấp dư luận!Chân Mây đã lên diễn đàn Trung Cộng thăm dò và nhận các câu trả lời như sau:Hỏi: Ni Hao! Có thể cho tôi biết tại sao Chính Phủ Trung Quốc phải loại trừ các bia giới cũ vùng biên giới Trung-Việt?Đáp: Tồn tại các bia giới cũ là điều không thể chấp nhận được.Hỏi: Bia giới cũ vẫn còn giá trị lịch sử chứ!Đáp: Việt Nam cũng như Triều Tiên là phiên thuộc của Trung Quốc từ thời xưa, các bia giới không có giá trị. Ngay cả các cột mốc hiện tại cũng không có ý nghĩa phân chia quốc giới.…Không như cách trả lời thô thiển của tên Trung Cộng này. Một thực tế man rợ là Đảng CSVN cấu kết với Trung Cộng nhằm xóa mọi dấu tích của đường biên giới cũ!Tập hợp rất nhiều hình ảnh thu thập từ các trang thông tin, diễn đàn của Trung Cộng sau đây sẽ làm rõ hơn vấn đề. Những hình ảnh có ghi rõ địa chỉ cần tham khảo, tuy nhiên nếu bạn đọc cần thêm chi tiết xin vui lòng dán các chữ Trung Văn sau lên Google để kiểm chứng:- 中越拆除陆地边界旧界碑工作正式启动 (Trung Việt Sách Trừ Lục Địa Biên Giới Cựu Giới Bài Công Tác Chính Thức Khải Động: Trung Việt chính thức khởi động công tác tháo bỏ mốc bia giới biên giới đất liền)- 中国云南河口县辖区内的旧界碑开始拆除 (Trung Quốc Vân Nam Hà Khẩu Huyện Hạt Khu Nội Đích Cựu Giới Bài Khai Thủy Sách Trừ: Bắt đầu tháo bỏ bia giới cũ trong địa hạt huyện Hà Khẩu, Vân Nam Trung Quốc).- 中越边界拆除旧界碑 (Trung Việt Biên Giới Sách Trừ Cựu Giới Bài)- Hoặc tham khảo hình ảnh nhiều nhất tại diễn đàn sau (truyền tải từ ngày 03.11.2010): hongdou.gxnews.com.cn/viewthread-5538500.html


Mốc 15 tại Hà Giang


Mốc 17 tại Vân Nam (Hà Khẩu)-Hà Giang

Mốc 17 tại Vân Nam (Hà Khẩu)-Hà Giang


Tân Kinh Báo” (Quảng Tây) đưa tin tức ngày 13.08.2010

Tân Kinh Báo” (Quảng Tây) đưa tin tức ngày 13.08.2010

Ảnh tham khảo: “Nhất xứ tam bài” (một nơi có 3 cột mốc) là hiện tượng sau các đợt đặt mốc quốc giới của hai bên Chính phủ CS Trung-Việt. Hình trên là giao giới Trung-Việt tại khu vực Đông Hưng, bờ bên kia sông là mốc mới của quốc giới Việt Nam (mốc 1325). Trên mỗi cột mốc xưa đều chia ra một mặt là Việt Nam, một mặt là Trung Quốc. Tình trạng của mốc mới tạo nên vùng đệm và rõ ràng lãnh thổ Việt Nam đã nằm ngoài đường biên giới xưa.


Biên dân Việt Nam tham gia bài trừ cột mốc dược Trung Cộng gọi trìu mến là “đồng bào tôi ơi!”.


Mốc giới mới (1050) và cũ “Trung Việt Quốc Giới, Khang Anh Ngoại Sách Số 5″ trên đỉnh Bình Cương Lĩnh nay thuộc Quảng Tây. Có cả mốc cũ bị đập bỏ!


Tiêu mốc số 18 đoạn Quảng Tây-Việt Nam vẫn còn rõ hai mặt chữ”Đại Nam”, “Đại Thanh” và năm tạo lập là 1893


Mốc “Đại Nam Quốc Giới” tại Phòng Thành-Quảng Tây


Khu vực Quảng Tây: Có cái bị đập vụn, có cái bị chôn dưới đất nhờ dân địa phương chỉ điểm để đào lên. Trơ trọi chiếc lõi cột mốc trăm năm!


Việt Nam tham gia khuân vác cột mốc quốc giới dâng cho Trung Cộng

Đưa lên xe tải phi tang!Xin quý dộc giã zuy trì dễ làm tài liệu lịch sữ.
———————————————————————————————————————————————————————————————————-

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

Xem lai...

Trang VietnamNet khi bị tấn công

Tin tặc tiếp tục tấn công một trong các báo điện tử hàng đầu Việt Nam, VietnamNet, và đưa ra nhiều cáo buộc.

(Bài này đã bị gỡ xuống sau khi đăng)

Phần I: Cái sẩy nảy cái ung

1. Ai đã đánh sập VNN, “người lạ” hay “người quen”?

TBT Nguyễn Anh Tuấn khẳng định: “không có tranh chấp nội bộ”, rất tiếc là phát biểu này chỉ đúng được 1%. Sự thật trần trụi là VNN bị đánh sập hai lần đều do tranh chấp “một mất một còn” của phe kháng chiến là Phòng Kỹ thuật Điều hành-VNN do Nguyễn Đoàn Trọng Hiếu (tự Hiếu SYS,01234566689) lãnh đạo và phe xâm lược vốn là một “người quen” là Trung tâm Giải pháp và Phần mềm vSolutions-VASC do Nguyễn Xuân Trường (tự Trường hói,0903250112) làm thủ lĩnh.

Ai cũng biết trước đây cả VNN và vSolutions (VOS) đều thuộc VASC do Nguyễn Anh Tuấn (Tuấn tổng) làm GĐ. Sau khi VNN bị về Bộ 4T, đã xảy ra nhiều tấn bi hài kịch ảnh hưởng đến số phận hàng trăm con người mà kết quả là Tuấn tổng ra đi mang theo VNN, còn VASC thì ở lại VNPT với sự lãnh đạo của “ngôi sao mới nổi” Nguyễn Văn Hải (Hải đôla) mà chúng tôi sẽ “leaks” trong hồi sau.

Mục tiêu tranh giành của phe Trường hói và phe Hiếu SYS là quyền được cung cấp phần mềm cho VNN (hệ thống CMS) đang mang lại doanh số trực tiếp hàng chục tỷ đồng mỗi năm và uy tín thương hiệu lớn (phần mềm đang được tòa soạn báo điện tử lớn nhất Việt Nam sử dụng) có thể dẫn đến nhiều hợp đồng trị giá nhiều chục tỷ đồng khác. Nhờ uy tín này, phe Hói đã ký được hợp đồng với hàng loạt khách hàng khác. Nhưng thời gian gần đây, Tuấn tổng chỉ đạo Hiếu SYS khởi động dự án phần mềm CMS của riêng VNN (gọi là V-CMS), và dự án này do nhân vật “đốt đền” Dương Hải Phong làm leader. Dự án này đã hoàn thành và VNN chuẩn bị đưa vào khai thác thì xảy ra hàng loạt vụ việc kỳ bí như VNN bị sập 2 lần trong một tháng, có đơn tố cáo VNN vi phạm bản quyền hàng chục triệu USD.

2. Ai đánh VNN lần thứ nhất ?

CMS VNN đã làm xong, làm thế nào để hất cẳng vSolutions? Câu trả lời là một “nhóm bí ẩn” đã tấn công VNN ngay từ bên trong vào ngày 7/11/2010, đợt tấn công này làm thịt hơn nửa số máy chủ của VNN, tiễn toàn bộ dữ liệu nội bộ của VNN lên đường và làm VNN bất ngờ chao đảo. Nguyên nhân được xác định là do phần mềm CMS của vSolutions không an toàn và do VNN sử dụng phần mềm chùa của Oracle nên không được vá lỗi dẫn đến thủng tứ tung từ bên trong. Tuấn tổng đã “tự bóp trym” để có lý do chính đáng ra quyết định ngưng sử dụng CMS của vSolutions.

Nhưng Hói đâu dễ chơi thế!!! Đạo một thước thì ma phải một thước rưỡi.

3. Ai đánh VNN lần thứ hai?

3h sáng ngày 22/11/2010 đợt tấn công trả đũa khủng khiếp đã giáng xuống đầu VNN. Toàn bộ máy chủ và dữ liệu bị xoá sạch sẽ, không thể khôi phục! Sau 10 năm hoạt động, VNN gần như chính thức trở về Zero dữ liệu. Trên [Để xem được đường dẫn này, bạn vui lòng đăng nhập] chỉ còn vẻn vẹn tin bài của hơn 1 tháng hoạt động và VNN từ chao đảo chính thức lâm vào khủng hoảng tứ bề. Toàn bộ hoạt động của VNN bị đình trệ, khách hàng khiếu kiện, nghi kỵ, nội bộ tan nát, bạn đọc nản lòng và… bị tố cáo vi phạm bản quyền!

Thiên hạ không hiểu, chỉ Tuấn tổng-Trường hói-Hiếu SYS hiểu rõ: Nội chiến đã bắt đầu! Lần này đến lượt Hói dùng 2 chiêu: Một đường “tự bóp trym” ăn vạ (tự tấn công vào máy chủ phục vụ cho khách hàng như: Báo Khánh Hoà, Báo Hải Phòng, Đà Nẵng,…) và cả website vSolutions. Đường khác, tấn công đánh sập hệ thống, xóa sạch dữ liệu VNN và nhanh tay sao lưu trước toàn bộ dữ liệu của VNN làm con tin để dễ bề đổi chác. Với con tin này, Hói nghĩ, Tuấn tổng buộc phải ngậm ngùi gác lại dự án hàng tỷ đồng V-CMS do Dương Hải Phong chủ trì và cam chịu quay vào vòng cương toả của vSolutions.

Trong một tình huống bất ngờ, Tuấn tổng đã cao mưu dùng kế khổ nhục là sa thải Hiếu SYS và sẽ tạm dùng vSolutions trong 6 tháng để cứu “con tin” dữ liệu, sau đó phế bỏ vSolutions để thênh thang kiếm bạc trên con đường mới!?

Bị đẩy ra đường, phe thân Hiếu SYS phải làm gì đây trong hoàn cảnh này?

4. Ai gửi đơn khiếu kiện VNN?

Ngược thời gian và tìm hiểu một chút về lịch sử sử dụng “phần mềm lậu” của VNN thì sẽ hiểu hơn về mức độ nguy hiểm của lá đơn tố cáo này. Sự thật là VNN đã sử dụng phần mềm lậu hơn 10 năm qua và vẫn phải đang tiếp tục sử dụng phần mềm lậu. Bị thiệt hại nặng nhất có lẽ là Oracle. Phần mềm CMC của vSolutions sử dụng Oracle khắp nơi: Oracle Webcache, Oracle Application Server, Oracle Database,…. Không phải tự nhiên mà lão Larry Ellison có tiền mua du thuyền 200 triệu USD, phần mềm của lão cực tốt và cực đắt. Oracle tính bản quyền dựa trên số lượng CPU có trên server chạy phần mềm, trung bình khoảng 50.000 USD cho một CPU/1 năm. Mà VNN thì thôi rồi … có trên 30 con chủ Sun, con bé thì 4 CPU, con to thì 16 CPU. Tính trung bình 8CPU/máy chủ thôi thì VNN đã sử dụng khoảng 240 CPU/năm. Tính sơ sơ, 240 CPU x 50,000 USD = 12 triệu USD/năm. Hix … không đủ can đảm tính tiếp! Ấy là chưa nói đến phần mềm Microsoft Windows, Microsoft Office, Microsoft Visual Studio .NET, Microsoft SQL Server 2008, Lạc Việt từ điển,… mà VNN đã dùng chùa vô tội vạ.

Sau vụ việc, Tuấn tổng chắc phải vất vả xử lý để bịt miệng Oracle, Microsoft,…? Giờ mà có đoàn kiểm tra liên ngành vào VNN sẽ thấy một điều kỳ lạ là toàn bộ máy tính của toà soạn đều vừa cài lại sau ngày 22/11/2010 và đều dùng bản Windows dùng thử 3 tháng hết hạn một lần!

Windows còn che được như thế, nhưng Oracle thì làm sao che được đây ? ([Để xem được đường dẫn này, bạn vui lòng đăng nhập])

Biết rõ tử huyệt này nên các tuyên bố của VNN trên báo chí đều rất rụt rè: “đã tiến hành mua phần mềm có bản quyền về cơ sở dữ liệu” (Chỉ có phần mềm cơ sở dữ liệu thôi sao ? Mua cách đây mấy năm rồi ?), “cũng có trao đổi thỏa thuận với các hãng cung cấp phần mềm máy chủ về cung cấp dịch vụ bản quyền” (Mới trao đổi sau khi bị tố cáo!). Riêng Tuấn tổng thì tuyệt nhiên “quên hẳn” chuyện bản quyền! Đây là điều Tuấn tổng lo ngay ngáy và tìm cách dìm bằng được.

Điều đáng buồn là, không có vụ bắt vi phạm bản quyền nào của những doanh nghiệp Việt Nam đang còn khó khăn mà Tuấn tổng không chỉ đạo VNN đánh cho tơi tả để thể hiện vai trò lá cờ đầu của VNN trong chống nạn vi phạm bản quyền?!

Quay lại động cơ vụ đơn tố cáo vi phạm bản quyền. Mục tiêu của đơn này là ngăn chặn việc quay lại của vSolutions. Do CMS của vSolutions cũng dùng Oracle như VNN!!! Mà đang bị tố cáo vi phạm bản quyền thì làm sao dám dùng! Chắc hiện giờ vSolutions đang rất nỗ lực thương lượng mua bản quyền Oracle vì VNN đang ở thế kẹt không thể mở miệng với Oracle. Lão Larry Ellison phen này vớ bở!

Tóm lại tất cả những gì VNN và TBT Nguyễn Anh Tuấn tuyên bố đến giờ đều không đúng sự thật. Là một cơ quan truyền thông VNN nên có những phản ứng trung thực và dũng cảm ngay bây giờ (dù muộn nhưng vẫn còn kịp). Chúng tôi sẽ chờ đợi những hành động cầu thị từ phía TBT Nguyễn Anh Tuấn trước khi công bố những thông tin tiếp theo.

Phần tiếp theo

1. Giám đốc VASC, Nguyễn Văn Hải đã chỉ đạo những gì?

2. Những bí mật từ số liệu tài chính, email nội bộ của VietNamNet và những phía liên quan trong 10 năm qua, tiền từ đâu đến và đi đến đâu?

3. Vì sao “công thần” Nguyễn Đoàn Trọng Hiếu được TBT Nguyễn Anh Tuấn cho ra đường như thế nào sau 10 năm cống hiến sau vụ VNN?

4. Wikileaks sẽ cho biết bóng ma nào đang đứng sau VietNamNet và TBT Nguyễn Anh Tuấn?

5. Vụ InnovGreen tố cáo VNN thực hư thế nào?

T.H.K – D.H.P

Thứ Tư, 1 tháng 12, 2010

Suy niệm!

Nếu quả thật Giáo Hội thực hiện cuộc lữ hành giữa những cơn bách hại do thế gian gây ra và trong niềm an ủi do Thiên Chúa ban tặng, điều đã thực sự xảy ra trong hai mươi thế kỷ lịch sử Giáo Hội và trong cả hai giai đoạn hiện diện của anh em Phan sinh trên đất Việt, thì chúng tôi tin, nghĩa là thấy bằng cách nhìn trong ánh sáng đức tin, rằng: một liều lượng bách hại và nghèo khó nào đó do Thiên Chúa ấn định phải được kể như ân huệ của Ngài gửi đến nhằm mưu ích cho chính Giáo Hội (x. hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 44), trước tiên vì hoàn cảnh đó tạo sự tỉnh táo cho Dân Chúa để cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ…(x. Mc 14,38) – mà cám dỗ thì luôn đa dạng và mãnh liệt: giàu có, hưởng thụ, danh vọng, quyền lực…,v.v….; và tỉnh táo để dấn thân xây dựng những giá trị cơ bản của Phúc Âm là Công lý, Hoà bình, tôn trọng Sự thậtNhân phẩm...; còn đối với anh em Phan sinh, ân huệ ấy tạo nên thứ đất mùn màu nâu được chuẩn bị sẵn sàng để đón nhận dấu ấn đặc thù của đoàn sủng Phan sinh là sống thân phận lữ hành trong tinh thần hèn mọn. Đó là con đường thánh Phanxicô đã chọn – mà thực ra chính Chúa Kitô đã chọn trước ngài -- để làm máng chuyển phúc lành và niềm an ủi của Thiên Chúa, Chúa tể của Lịch sử, đến cho Giáo Hội và thế giới.

Phi Khanh Vương Đình Khởi, ofm
Học Viện Phanxicô Thủ Đức ngày 09-09-09