Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

Thời sự

Hội chứng nhiệm kỳ

vietnamnet.vn - 8 giờ trước

- Không ít người suy nghĩ và hành động rất thực dụng. Nếu có thể tiếp tục làm khóa tới hoặc có thể"lên" thì thu mình cho tròn, tránh mọi va chạm để dễ được bầu, cử lại; nếu là nhiệm kỳ thứ hai hoặc sắp về hưu thì tập trung lo thu vén cá nhân: nhận nhà, xin đất, sắp xếp công việc cho người thân, phe cánh.

>> Bỏ đánh giá kiểu ’né’
>> Những người cản trở đổi mới

Nhiệm kỳ là thời hạn giữ chức vụ. Thời hạn đó thường được định ra trước trong các văn bản chính thức. Chắc người đầu tiên dùng nhóm từ"tư duy nhiệm kỳ" cũng không nghĩ rằng ngày nay nó được dùng phổ biến như vậy, dù nội dung chưa được minh định rõ ràng. Có người gọi"tư duy nhiệm kỳ" là"tranh thủ nhiệm kỳ công tác của mình để xoay xở, trục lợi". Có lẽ nên gọi những hành vi đó là chụp giật, tranh thủ vơ vét lúc đương chức thì đúng hơn .

Trong thực tế, chế độ nhiệm kỳ ảnh hưởng khá mạnh đến hoạt động của một số tổ chức, cơ quan, cá nhân được bầu hoặc được cử theo nhiệm kỳ. Tạm gọi đó là"hội chứng nhiệm kỳ" để nghiên cứu, khảo sát.

Né tránh, đùn đẩy

Thời hạn một nhiệm kỳ của đa số tổ chức được bầu ra ở nước ta như Quốc hội/ hội đồng nhân dân/ cấp ủy đảng là 5 năm. Thời hạn đó xem như"cứng" vì chỉ 5 năm mới tổ chức bầu cử/ đại hội đảng để bầu ra các cơ quan đó một lần.

mô tả ảnh.

Hội chứng nhiệm kỳ phụ thuộc nhiều vào việc người đứng đầu tới đây sẽ"lên","sang ngang" hay về hưu. Hình minh họa: macleodcartoons

Các chức danh do các cơ quan nói trên bầu ra như chủ tịch hội đồng, chủ tịch ủy ban, bí thư cấp ủy…thường cũng hưởng thời hạn nhiệm kỳ theo các cơ quan bầu ra họ, tuy điều này không hoàn toàn đúng. Trên nguyên tắc thì cơ quan bầu ra có thể"cắt" nhiệm kỳ của người đã được bầu bằng cách bầu người khác thay thế khi cần, trong phiên họp của cơ quan đó.

Khi được bầu ra, mỗi cá nhân và tổ chức thường có những ý tưởng, chương trình, kế hoạch, những lời hứa hẹn cải thiện mọi mặt công việc thuộc phạm vi trách nhiệm và cố gắng tìm cách hoàn thành những điều đó trong nhiệm kỳ. Đó là điều cần có và rất nên hoan nghênh, khuyến khích.

Hội chứng nhiệm kỳ là những mặt tiêu cực trong tư duy và hành vi của tổ chức và người đứng đầu, bị tác động bởi tính chất thời hạn của nhiệm kỳ.

Hội chứng nhiệm kỳ thường có một số biểu hiện:

Thay đổi nề nếp công việc đã hình thành đang hoạt động tốt, kèm theo đó là việc sắp xếp nhân sự. Thay đổi thường làm rối việc vì không xuất phát từ yêu cầu khách quan mà do người mới chủ quan, thiếu hiểu biết, phiến diện, có dụng ý riêng. Hội chứng này lặp lại qua các khóa, các đời thủ trưởng khiến nề nếp công việc, các mối quan hệ công tác không định hình, rất khó tiến bộ.

Thích làm các việc"hoành tráng", có tiếng, để ghi dấu ấn của cá nhân mình, khóa mình. Những việc đó thường là việc bề nổi, dễ làm, ngon ăn, nhưng không cơ bản. Để làm, họ bất chấp những điều kiện khách quan, những lãng phí gây ra do phải bỏ dở việc khóa trước để lại, bất chấp những lời can ngăn.

Tìm cách né tránh, trì hoãn những nhiệm vụ cơ bản nhưng thầm lặng, hoặc khó khăn, cần nhiều tâm lực, thời gian. Đùn đẩy trách nhiệm kết luận và xử lý những vấn đề gai góc nảy sinh trong nhiệm kỳ, vin cớ"chuyện thuộc nhiệm kỳ trước" để đẩy trách nhiệm cho khóa trước, người trước, hoặc vin cớ"chưa chín mùi" để"gói" lại,"chuyển giao" cho khóa sau. Nếu khóa sau cũng lặp lại cách làm này thì việc giải quyết vấn đề bị đẩy lùi vô thời hạn.

Đề bạt"đầu sai"

Những người mắc hội chứng nhiệm kỳ không lo công tác tổ chức cán bộ tầm dài, chỉ chăm chăm làm những việc sắp xếp nhân sự vừa được tiếng, vừa có lợi như đề bạt, sắp xếp người cùng cánh vế, những"đầu sai" được việc trước mắt vào bộ máy,"cài cắm" vào khóa sau; gạt ra hoặc vô hiệu hóa những người có đức, tài nhưng có ý kiến khác.

Không thực lòng tiếp thu kinh nghiệm, đánh giá đúng công lao, đóng góp của khóa trước, người đi trước. Có khuynh hướng lái mọi đánh giá, tổng kết công việc của khóa mình theo hướng ưu điểm nhiều hơn, khuyết điểm ít hơn so với thực tế. Có thành tích thì nhấn mạnh vai trò lãnh đạo, có khuyết điểm không thể phủ nhận thì nhấn mạnh nguyên nhân khách quan.

Hội chứng nhiệm kỳ của tổ chức thường là do người đứng đầu chi phối, thể hiện hội chứng nhiệm kỳ của người đứng đầu, phụ thuộc khá rõ vào đạo đức, bản lĩnh, cá tính, văn hóa của họ. Nó cũng phụ thuộc nhiều vào đặc điểm"nhân thân" đứng đầu: là người trưởng thành tại chỗ hay được điều động từ nơi khác, khóa đầu hay khóa thứ hai, tới đây sẽ"lên" hay"sang ngang" hay về hưu.

Không ít người suy nghĩ và hành động rất thực dụng. Nếu có thể tiếp tục làm khóa tới hoặc có thể"lên" thì thu mình cho tròn, tránh mọi va chạm để dễ được bầu, cử lại; nếu là nhiệm kỳ thứ hai hoặc sắp về hưu thì tập trung lo thu vén cá nhân: nhận nhà, xin đất, sắp xếp công việc cho người thân, phe cánh; một số hối hả ra các quyết định về dự án, về nhân sự… bất chấp thủ tục, để lại hậu quả phức tạp về sau.

Đảng lãnh đạo trước hết bằng cách đề ra và tổ chức thực hiện cương lĩnh, đường lối và công tác tổ chức cán bộ. Đó là những nhiệm vụ chiến lược đòi hỏi tầm nhìn và hành động kiên trì, nhất quán, không thể hoàn thành ngay trong một khóa qua các khóa, tại các cấp, đòi hỏi thực hiện những việc căn cơ, phức tạp, phải dám đương đầu với những trở ngại. Hội chứng nhiệm kỳ rõ ràng trái với những yêu cầu này.

Đây chính là một nguyên nhân khiến một số nội dung quan trọng của cương lĩnh và chiến lược thực hiện chậm chạp, thậm chí bị bỏ qua.

Hội chứng nhiệm kỳ càng có khuynh hướng nặng hơn nếu các nghị quyết chỉ mới đề cập được những vấn đề chung về nguyên tắc; nếu các mối quan hệ trên - dưới, mối quan hệ giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp còn nhiều điểm chưa rõ; nếu việc kiểm tra, giám sát không được cải thiện; nếu việc đánh giá và sử dụng cán bộ lãnh đạo vẫn chưa sát, đúng, còn bị nhiễu vì những cố gắng bề nổi để"tự thể hiện" của cán bộ, nhẹ xem xét thực chất.

Thứ Ba, 15 tháng 12, 2009

Ferdinand Lassalle:Bàn về bản chất của Hiến pháp.

Bàn về bản chất của Hiến pháp
Bài nói của Ferdinand Lassalle(1825 - 1864) tại một buổi họp của hiệp hội công dân Berlin năm 1862
x-cafe chuyển ngữ



Thưa các ngài!

Tôi được yêu cầu đóng góp một tham luận cho cuộc họp quan trọng này, và tôi đã chọn một vấn đề, tự nó đã xứng đáng để bàn luận, bởi vì trước hết nó rất phù hợp với tình hình. Cụ thể ở đây tôi sẽ nói về bản chất của Hiến pháp.

Đầu tiên tôi có điều lưu ý, thưa các ngài, rằng tham luận của tôi sẽ là một tham luận chặt chẽ về mặt khoa học. Mặc dù vậy hoặc đúng hơn là sẽ không có ai trong các ngài lại không thể nắm bắt được bài tham luận này từ đầu đến cuối và hoàn toàn không hiểu gì.

Bởi vì tính khoa học thực sự, thưa các ngài-cũng tốt, nếu nhắc lại luôn ở đây-, không có gì khác hơn là nằm ở tính mạch lạc của tư duy, đó là điều không đòi hỏi phải có bất cứ điều kiện nào có trước, từng bước từng bước tất cả sẽ được khai triển từ chính nó, song cũng chính vì vậy, thính giả một khi chú ý lắng nghe sẽ không cần phải căng thẳng trí óc mới có thể hiểu được.

Sự mạch lạc trong tư duy chính vì thế không đòi hỏi ở người nghe nó bất kỳ một điều kiện đặc biệt nào. Mà ngược lại, bởi vì nó, như đã lưu ý, chứa đựng không có gì khác hơn là sự vô điều kiện của tư duy, sự mạch lạc này triển khai tất cả từ chính nó, và như vậy nó không chấp nhận bất kỳ một điều kiện có trước nào. Cái nó chấp nhận và đòi hỏi không có gì khác hơn là người nghe, phải không có bất kỳ điều kiện có trước thuộc dạng nào, không có định kiến cố định nào, mà phải nghiên cứu mới đối tượng từ đầu, cho dù họ đã nhiều lần suy nghĩ hoặc nói về nó, có nghĩa là, họ hoàn toàn không hề biết chút gì một cách chính xác về nó, và cũng có nghĩa là ít nhất trong thời gian tiến hành tìm hiểu vấn đề phải từ bỏ tất cả những gì cho đến nay được hiểu về đối tượng này.

Và như vậy tôi sẽ bắt đầu bài tham luận của mình với câu hỏi: Hiến pháp là gì? bản chất của một bản Hiến pháp bao gồm những gì?

Tất cả mọi người, thưa các ngài, hiện nay ai cũng nói đến Hiến pháp từ sáng tới tối. Trên tất cả các mặt báo, trong mọi thành phần xã hội, ở tất cả các quán xá người ta liên tục nói về Hiến pháp.

Thế nhưng, nếu tôi đặt vấn đề này ra một cách nghiêm túc: bản chất của một bản hiến pháp là gì, khái niệm Hiến pháp là gì, có lẽ tôi sợ rằng, tất cả những kẻ đang bàn luận về Hiến pháp sẽ không có khả năng để đưa ra một câu trả lời cho thỏa mãn.

Nhiều người sẽ cảm thấy đang cố gắng thử tìm cách trả lời câu hỏi đó bằng việc lục lại bộ luật nước Phổ năm 1850 và dẫn ra đây bản Hiến pháp của nước Phổ.

Nhưng các ngài sẽ nhanh chóng nhận ra, đó không phải là câu trả lời cho câu hỏi của tôi. Bởi vì những gì trong đó chỉ là cái nội dung đặc biệt của một bản Hiến pháp nhất định mà cụ thể ở đây là Hiến pháp nước Phổ, và như vậy hoàn toàn không đủ khả năng để trả lời cho câu hỏi: bản chất của một bản Hiến pháp, hay khái niệm Hiến pháp thực chất là gì.

Nếu tôi đặt câu hỏi này cho một luật gia, câu trả lời của anh ta có lẽ là như thế này: "Hiến pháp là một bản khế ước giữa nhà vua và dân chúng, nó xác định những nguyên tắc nền tảng của lập pháp và của chính phủ trong một đất nước" hoặc có thể anh ta sẽ khái quát hóa hơn nữa, vì ngoài ra còn có những hiến pháp của chính thể cộng hòa, và nói: "Hiến pháp là bộ luật nền tảng được tuyên cáo trong toàn quốc, nó xác định việc tổ chức của luật pháp công trong quốc gia đó."

Nhưng tất cả những định nghĩa mang tính luật pháp hình thức kiểu này hoặc tương tự như vậy cũng giống như câu trả lời trên đó, chúng đều cách xa câu trả lời chính xác cho câu hỏi của tôi. Bởi vì tất cả những câu trả lời này đều chỉ chứa đựng sự diễn tả mang tính bên ngoài về việc một bản Hiến pháp đã được hình thành nên như thế nào, và một bản Hiến pháp làm những gì, nhưng không chứa đựng cái nhiệm vụ: Hiến pháp là gì. Nó đưa ra những tiêu chuẩn, những đặc trưng để người ta từ đó nhận ra được một bản Hiến pháp về hình thức và về tính pháp lý. Nhưng nó hoàn toàn không nói cho chúng ta biết về khái niệm Hiến pháp và về bản chất của một bản Hiến pháp là gì .

Vì vậy nó đặt chúng ta vào trạng thái hoàn toàn mù mờ, không biết liệu và khi nào một bản Hiến pháp nào đó là tốt hoặc tồi, có khả năng hay không có khả năng, sẽ bền vững hoặc không bền vững. Bởi vì tất cả những cái đó chỉ có thể nảy sinh trước hết từ khái niệm Hiến pháp. Chí ít đầu tiên người ta phải hiểu được bản chất của một bản Hiến pháp, để có thể biết, nó có phù hợp với cái bản chất đó hay không và nó phải thể hiện ra như thế nào. Tuy nhiên về điều này như đã thấy, bất kỳ kiểu định nghĩa mang tính luật pháp, tính hình thức, được viết một cách giống nhau trên bất kỳ một tờ giấy nào, được một dân tộc hoặc một dân tộc và nhà vua của họ cùng đặt bút ký và tuyên bố là Hiến pháp bất kể nội dung của tờ giấy đó được tạo nên ra sao, đều đưa chúng ta vào một trạng thái mù mờ. Sự sáng tỏ chỉ có được khi khái niệm Hiến pháp, các ngài sẽ thấy rõ điều này khi mà chúng ta đã nắm bắt được khái niệm đó-là mạch nguồn của tất cả nghệ thuật hiến pháp và của minh triết hiến pháp, là những điều sau đó sẽ phát triển vừa dễ dàng và cũng tự nhiên từ cái khái niệm đó.

Tôi nhắc lại câu hỏi lần nữa: một bản Hiến pháp là gì, cái gì là bản chất, là khái niệm Hiến pháp?

Bởi vì chúng ta chưa biết-cho nên trước hết chúng ta phải cùng nhau tìm kiếm, thưa các ngài-và như vậy chúng ta nên vận dụng một phương pháp, mà chúng ta luôn cảm thấy thoải mái khi vận dụng nó, nếu một khi cần phải đạt đến một khái niệm rõ ràng về một sự việc.

Phương pháp này thật ra cũng đơn giản thôi, thưa các ngài. Nội dung của nó là, với một sự việc mà ta đang tìm kiếm khái niệm về nó, người ta sẽ tìm cách so sánh nó với một sự việc tương tự, và tìm cách suy nghĩ về sự khác biệt một cách mạch lạc, sâu sắc để cuối cùng có thể phân biệt được giữa chúng với nhau.

Một khi sử dụng phương pháp này, tôi sẽ hỏi: điểm khác biệt giữa Hiến pháp và luật cơ bản là như thế nào?

Cả hai, Hiến pháp và Luật, rõ ràng đều có một bản chất liên quan với nhau. Một Hiến pháp cần phải có hiệu lực pháp luật; cho nên nó cũng phải là luật. Tuy nhiên nó không chỉ là luật, nó còn phải trên cả luật. Và như vậy có một sự khác biệt ở đây. Việc ở đây có một sự khác biệt như vậy, việc một bản hiến pháp cần phải không chỉ là luật, mà còn hơn thế nữa, có thể chứng minh được qua hàng trăm thực tế.

Vậy nên các các ngài đừng có khó chịu, các ngài thân mến, nếu như các ngài thấy xuất hiện những điều luật mới. Ngược lại, các ngài biết đấy, việc vài năm lại có ít nhiều những điều luật mới được ban hành đó là điều cần thiết. Tuy nhiên không có điều luật mới nào có thể được ban hành mà không có sự thay đổi tương quan luật pháp đang hiện hành cho đến lúc đó. Bởi vì giả như điều luật mới không đem lại thay đổi gì trong trạng thái luật pháp vẫn tồn tại đến thời điểm đó, thì điều luật đó hoàn toàn trở nên thừa và sẽ không được ban hành.

Đối với việc sửa đổi luật pháp các ngài không sẽ cảm thấy khó chịu, vì nhìn chung các ngài coi đó là những nhiệm vụ định kỳ của các bộ phận trong chính phủ. Thế nhưng chừng nào người ta chọc ngoáy các ngài ở chỗ Hiến pháp, khi đó các ngài sẽ bực bội và la lên: Người ta đụng chạm đến Hiến pháp của chúng ta. Do đâu mà có sự khác biệt đó? Sự khác biệt đúng là không thể phủ nhận được ở chỗ, trong một số Hiến pháp rõ ràng được quy định: Hiến pháp cần phải không thể thay đổi được; ở chỗ khác lại ghi, chỉ thay đổi khi có được 2/3 số đại biểu theo luật đồng ý, ở chỗ khác nữa lại ghi: những chủ thể lập pháp hoàn toàn không thể, ngay cả khi trong liên minh với các quyền lực chính phủ khác, tiến hành việc thay đổi Hiến pháp, mà một khi, nếu như nó quyết định việc thay đổi Hiến pháp, lúc đó cần phải có một hội nghị toàn quốc mới, gồm những người do dân lựa chọn, đặc biệt dành cho mục đích này, để quyết định về việc thay đổi Hiến pháp.

Trong tất cả những thực tế trên đây đã thể hiện một điều, rằng theo như tình cảm của toàn bộ dân chúng một bản Hiến pháp còn cần phải là cái gì đó nhiều thiêng liêng hơn, vững chắc hơn, bất biến hơn là một bộ luật thông thường.

Bây giờ tôi lại tiếp tục với câu hỏi của mình: một bản Hiến pháp khác với một văn bản luật ở chỗ nào?

Câu trả lời cho câu hỏi này thường như sau: một bản Hiến pháp không chỉ là một văn bản luật, như những văn bản luật khác, mà nó còn là một văn bản luật nền tảng của một quốc gia. Hoàn toàn có khả năng, thưa các ngài, rằng trong câu trả lời này có thể ẩn chứa những cái đúng trong một cách thức không rõ ràng. Nhưng trong cái cách không rõ ràng này, là cái mà câu trả lời còn có, đã không giúp gì hơn cho tôi. Bời vì nó lại làm nảy sinh câu hỏi tiếp theo: một văn bản luật thông thường khác một văn bản luật nền tảng ở chỗ nào? Như vậy chúng ta lại chẳng tiến xa thêm được bao nhiêu. Chúng ta chỉ có thêm được một cái tên mới, luật nền tảng, nó chẳng giúp gì được cho chúng ta, chừng nào chúng ta lại tiếp tục không hề biết và nói ra được sự khác biệt nào giữa một văn bản luật nền tảng và một văn bản luật thông thường.

Do đó chúng ta hãy thử tìm cách tiếp cận vấn đề theo cách sau: chúng ta sẽ nghiên cứu xem những quan niệm nào có thể được chứa đựng trong cái tên "Luật nền tảng", hay nói một cách khác: một văn bản luật nền tảng phải khác một văn bản luật thông thường như thế nào, nếu như cái thứ nhất phải thực sự xứng đáng với tên tên gọi Luật nền tảng.

Vậy thì một văn bản luật nền tảng cần phải:

1. là một văn bản luật, có chiều sâu hơn một văn bản luật thông thường; điều này thể hiện qua chữ nền tảng; nhưng nó cũng cần:

2. để là một luật nền tảng, chính xác ra nó phải là cái nền để các luật khác xây dựng trên đó, như vậy có nghĩa là luật nền tảng phải tiếp tục có tác động trong những điều luật thông thường khác, nếu nó, như đã nói, cần phải là nền cho các luật này. Như vậy có nghĩa là luật nền tảng phải tiếp tục có hiệu lực trong những văn bản luật thông thường khác.

3. nhưng một sự việc, có một nền tảng, sẽ không còn có thể tùy tiện trở thành lúc thế này lúc thế khác; mà nó phải luôn giữ nguyên như nó vốn là. Việc nó khác đi, không ảnh hưởng gì đến nền tảng của nó. Chỉ có cái không có nền tảng, và cũng bởi vậy mới có thể là điều ngẫu nhiên, lúc như nó vốn là, và cũng có lúc khác đi. Tuy nhiên cái gì có một nền tảng, nó nhất thiết phải như nó vốn là. Ví dụ như các hành tinh có một sự chuyển động nhất định. Chuyển động này hoặc tuân theo một nền tảng quy định cho nó hoăc nó không tuân theo một nền tảng nào. Nếu nó không có nền tảng, thì chuyển động đó mang tính ngẫu nhiên và có thể bất kỳ một lúc nào đó chuyển động sẽ đổi khác. Nhưng nếu nó có một nền tảng, cụ thể, như những nhà khoa học đã nói, là lực hấp dẫn của mặt trời, xác định và điều khiển, làm cho nó không thể nào khác được như nó phải là. Trong quan niệm về nền tảng, như vậy có chứa đựng ý tưởng về một sự tác động tất yếu, về một lực tác động, là cái cùng với sự tất yếu đã làm cho cái lấy nó làm nền tảng trở nên phải như nó phải là.
Như vậy nếu Hiến pháp làm nên luật cơ bản của một quốc gia,-và ở đây bắt đầu lóe lên cho chúng ta tia sáng đầu tiên, thưa các ngài-nó sẽ là một cái gì đó còn cần phải được xác đinh cụ thể hơn hoặc như chúng ta tạm thời tìm ra, đó là một lực tác động với sự tất yếu đã làm cho những điều luật khác và những thiết chế luật pháp khác, là những cái được ban hành trong đất nước này, trở thành như nó hiện là, để sao cho từ giờ trở đi không thể nào có thể ban bố những điều luật khác với chính những điều luật đó trên đất nước này.

Nhưng liệu bây giờ có một cái gì đó trong đất nước này, thưa các ngài,- và với câu hỏi này bây giờ dần dần toàn bộ ánh sáng bắt đầu được chiếu rọi vào đây- liệu có một cái gì đó trong một đất nước, một lực tác động xác định nào đó chẳng hạn, nó có tác động vào tất cả các bộ luật được ban hành trên đất nước này sao cho chúng nhất thiết ở trong một phạm vi nhất định và không trở nên khác đi như chúng phải như thế?

Đương nhiên, thưa các ngài, có một cái gì đó như vậy và cái gì đó này không có gì khác hơn là-những mối tương quan quyền lực trên thực tế, chúng đang tồn tại trong một xã hội hiện hành.

Những tương quan quyền lực, đang tồn tại trong một xã hội nào đó, là lực đang tác động quyết định tất cả các điều luật và các thể chế luật pháp của xã hội đó để sao cho chúng về cơ bản không thể nào khác được như chúng cần phải là.

Tôi sẽ đưa lướt qua một ví dụ sinh động để làm sáng tỏ hoàn toàn vấn đề. Thí dụ này cụ thể sẽ được tôi đặt ra dưới một hình thức hoàn toàn có thể vô lý. Nhưng ngoại trừ điều, mà sau này có thể sẽ được chỉ ra, rằng cũng chính cái ví dụ đó trong một hình thức khác tất nhiên sẽ hoàn toàn có thể có lý, và như vậy sẽ hoàn toàn không quan trọng, liệu cái ví dụ đó có thể xảy ra hay không, mà điều quan trọng chỉ là việc chúng ta muốn học được điều gì từ đó, là bản chất của sự việc mà ta muốn bóc trần, một khi nó xuất hiện.

Cái ngài đều biết, thưa các ngài, rằng ở nước Phổ chỉ có những gì được công bố qua bộ luật mới có hiệu lực luật pháp. Bộ luật đã được in tại nhà in Decker'sches Oberhofbucherein. Bản thân nguyên bản của các điều luật được lưu giữ trong kho lưu trữ nào đó của nhà nước, còn trong các lưu trữ khác, trong các thư viện và trong các tạp chí là những bản in của các bộ luật.

Bây giờ nếu các ngài tưởng tượng trường hợp có một đám cháy lớn xảy ra, chẳng hạn giống như đám cháy ở Hamburg, và lúc này tất cả những lưu trữ quốc gia đó, những thư viện, những tạp chí và ngay cả nhà in Decker'sche Oberhofbuchdruckerein đều bị cháy trụi và tai nạn này kỳ lạ thay cũng xảy ra cùng lúc ở tất cả các thành phố của vương quốc, ngoài ra những thư viện tư nhân trong đó có chứa những phiên bản của bộ luật cũng không thoát khỏi hỏa hoạn, có nghĩa là giờ đây trên toàn nước Phổ không còn tồn tại bất cứ một văn bản luật pháp nào ở dạng đã được công chứng.

Lúc này, đất nước, do bởi tất cả văn bản luật pháp đã bị tai họa thủ tiêu và như vậy không có cách nào khác là phải xây dựng lại một bộ luật mới.

Thưa các ngài, bây giờ liệu các ngài có tin, rằng người ta trong trường hợp này sẽ tiến hành công việc một cách tùy tiện, người ta có thể xây dựng những luật mới nào đó một cách tùy tiện, như một ai đó thích? Chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu.

Bây giờ tôi đặt ra trường hợp, các ngài sẽ nói: Các bộ luật đã bị mất đi, giờ đây chúng ta làm lại bộ luật mới và trong bộ luật mới này chúng ta không muốn giành cho triều đình một vị trí như trước đây, hoặc là mạnh hơn nữa: chúng ta không muốn giành cho nó bất kỳ vị trí nào.

Lúc này nhà vua chỉ cần nói một cách đơn giản: Bộ luật cho dù đã bị mất đi; nhưng trên thực tế quân đội vẫn tuân theo ta, tiến lên theo lệnh của ta, trên thực tế theo lệnh ta các chỉ huy các kho vũ khí và trại lính sẽ kéo pháo ra, dàn trận trên đường phố và với quyền lực thực sự đó ta không để cho các ngươi sắp đặt cho ta một vị trí nào khác ngoài vị trí mà ta muốn.

Các ngài thấy không, thưa các ngài, một ông vua có quân đội trong tay cùng với súng ống, - đó chính là một mảng của Hiến pháp!

Hoặc tôi đặt ra một trường hợp khác, các ngài nói: Chúng tôi gồm 18 triệu dân nước Phổ. Trong số 18 triệu người này chỉ có một con số nhỏ không đáng kể các đại địa chủ thuộc dòng dõi quý tộc. Chúng tôi không thể chấp nhận được, tại sao một số nhỏ bé không đáng kể những đại địa chủ này lại có thể có mức độ ảnh hưởng lớn như ảnh hưởng của toàn bộ 18 triệu con người cộng lại, qua cách họ tạo nên một viện qúy tộc gồm toàn người của họ, viện này có quyền thay thế hoặc loại bỏ các quyết định của hạ viện gồm các nghị viên được toàn thể nhân dân bầu lên, khi mà chúng vẫn còn có tác dụng. Tôi đặt ra trường hợp, các ngài thảo luận với nhau như vậy và nói: Chúng ta tất cả đều là "quý tộc" và không muốn có bất kỳ một viện quý tộc đặc biệt nào nữa.

Bây giờ, thưa các ngài, các đại địa chủ quý tộc dĩ nhiên không thể sai nông dân tấn công các ngài! Mà hoàn toàn ngược lại, rất có thể chính họ lại phải bối rối tìm cách thoát khỏi sự tấn công của các nông nô của mình trước.

Thế nhưng các đại địa chủ quý tộc luôn có ảnh hưởng rất lớn đến triều đình và nhà vua, và bằng ảnh hưởng này họ có thể điều động quân đội và vũ khí phục vụ cho mình y như là những phương tiện quyền lực đó đang nằm trực tiếp dưới sự điều khiển của họ.

Như vậy các ngài thấy, thưa các ngài, một quý tộc, có ảnh hưởng đến triều đình và nhà vua, -đó cũng là một mảng của Hiến pháp.

Hoặc là tôi đặt ra một trường hợp ngược lại, nhà vua và giới quý tộc thỏa thuận riêng với nhau, tái thiết lập luật cơ bản về phường nghề thời trung cổ, và không chỉ đối với nghề thủ công nhỏ, như người ta cách đây ít năm phần nào thực sự đã thử làm điều đó, mà sẽ làm theo cách như nó đã có ở thời trung cổ, cụ thể là cho toàn bộ nền sản xuất có thiết bị máy móc. Thưa các ngài, chắc các ngài cũng đã biết, rằng tư bản lớn không thể nào hoạt động sản xuất trong hệ thống phường nghề kiểu thời trung cổ, rằng các đại xí nghiệp và các cơ sở công nghiệp, nền sản xuất bằng máy móc không thể nào phát triển được trong một hệ thống phường nghề thời trung cổ. Bởi vì, ví dụ như, trong hệ thống đó tồn tại khắp mọi nơi những giới hạn mang tính luật pháp, khoanh vùng những nhánh công việc khác nhau và cả những nhánh có quan hệ gần gũi với nhau, và không có một doanh nhân nào được phép kết nối hai nhánh giống nhau lại với nhau. Người thợ sơn không được phép trám các lỗ trống, giữa người thợ rèn kim và thợ nguội ngày đó là vô số những thủ tục để có thể vượt qua được giới hạn của hai nghề nghiệp, người thợ in vải không được được phép là tổn hại đến người chế tạo màu. Dưới hệ thống phường nghề đối với các loại số lượng cũng được quy định một cách nghiêm ngặt về mặt luật pháp như vậy, một doanh nhân chỉ được phép sản xuất với một số lượng nhân công có giới hạn, cụ thể là ở mỗi một địa phương trong mỗi một nghành nghề, mỗi một thợ cả chỉ được phép sử dụng cùng một số nhân công nhất định như luật định.

Các ngài thấy đấy, chỉ từ hai lý do đó nền sản xuất lớn, nền sản xuất với thiết bị máy móc và với một hệ thống máy móc trong điều kiện phường nghề không thể nào phát triển lấy một ngày. Bởi vì điều đầu tiên nền sản xuất lớn này đòi hỏi là không khí thở của nó, đó là sự kết nối các nhánh công việc hoàn toàn khác nhau trong sự điều khiển của cùng một tư bản lớn; thứ hai, đó là nền sản xuất số lượng lớn và sự tự do cạnh tranh, có nghĩa là việc sử dụng một cách tùy ý không hạn chế số lượng người lao động.

Nếu như bây giờ người ta mặc dù vậy vẫn muốn tái thiết lập luật phường nghề, cái gì sẽ xảy ra?

Các ông Borsig, Egels v.v..., các chủ nhà máy lớn nhuộm lớn, các chủ nhà máy sợi lớn v.v... sẽ đóng cửa nhà máy và sa thải công nhân, ngay cả các ban điều hành các cung đoạn đường sắt cũng phải làm như vậy, buôn bán và kinh doanh sẽ ngừng trệ, một số lớn các thợ cả nghề thủ công do đó phần thì tự nguyên, phần thì bắt buộc phải sa thải thợ, lúc đó đám đông dân chúng vô cùng lớn này sẽ đổ ra đường gào lên đòi bánh mỳ và việc làm, đằng sau lưng họ là những nhà tư sản lớn đứng ra cổ vũ bằng ảnh hưởng của mình, khích động qua uy tín của mình và đứng ra tạm ứng tiền và cứ như thế sẽ đến lúc xảy ra một cuộc giao chiến, trong đó phần thắng không thể có đối với quân đội.

Thưa các ngài, như vậy các ngài thấy, các ông Borsig và Egels, các nhà đại công nghiệp nói chung, họ là một mảng của Hiến pháp.

Hay là tôi đặt ra môt trường hợp khác, chính phủ muốn vận dụng một biện pháp nào đó, mà biện pháp này cực kỳ làm tổn hại đến quyền lợi của các nhà tài phiệt lớn. Ví dụ, chính phủ muốn nói, nhà băng hoàng gia cần phải không được như hiện nay, nghĩa là không nên cung cấp tín dụng rẻ cho các tài phiệt và các tư bản công nghiệp lớn nữa, đó là những người dù sao cũng đã được cung một lượng tiền và tín dụng nhiều hơn tất cả, và họ là những người thời nay chỉ cần vớichữ ký là đã có thể thanh toán với nhà băng, cho nên nhà băng chính ra phải là nơi cung cấp tín dụng cho tầng lớp dưới và tầng lớp trung lưu-và người ta tiến hành tổ chức lại nhà băng hoàng gia để thực hiện mục tiêu đó-liệu có thể làm được như vậy, thưa các ngài?

Vâng, thưa các ngài, dĩ nhiên trường hợp này không thể kéo theo một cuộc nổi loạn. Nhưng đối với chính phủ hiện nay cũng không làm được.

Bởi vì thỉnh thoảng, thưa các ngài, chính phủ cũng ở trong tình trạng, cần có phương tiện tài chính như vậy, cần có một lượng lớn phương tiện tài chính như vậy, mà nó không dám gom nhặt qua hình thức thuế khóa. Trong trường hợp đó nó tìm lối thoát bằng cách xài trước một món tiền của tương lai, có nghĩa là, vay nợ và phát hành tín phiếu. Để làm được điều này nó phải cần đến các chủ nhà băng. Mặc dù về lâu về dài phần lớn các tín phiếu lại trở về trong tay toàn bộ giai cấp hữu sản của đất nước và chủ nợ nhỏ lẻ. Nhưng tuy nhiên điều này cần có thời gian, và thường cần rất nhiều thời gian. Thế nhưng chính phủ lại cần có tiền và ngay lập tức, hoặc trong một thời hạn rất ngắn, vì vậy nó cần đến những nhân vật trung gian môi giới, trước mắt cung cấp cho nó toàn bộ số tiền cần thiết và tự chịu phần rủi ro đối với những giấy nợ mà chúng nhận được từ chính phủ, với thời gian những giấy đó sẽ được bán cho công chúng với lãi suất có từ sự tăng giá một cách giả tạo khi bán ra trên thị trường chứng khoán. Những nhân vật trung gian đó là những chủ nhà băng, và bởi vậy ngày nay chính phủ không được phép làm phật lòng họ.

Như vậy các ngài đã thấy, thưa các ngài, những chủ nhà băng như Mendelssohn, Schickler, hoặc thì trường chứng khoán nói chung, đó cũng là một mảng của Hiến pháp.

Hoặc tôi đặt ra trường hợp, ví dụ chính phủ muốn ban hành một điều luật hình sự, giống như ở Trung quốc, nghĩa là nếu một kẻ nào đó phạm tội ăn trộm thì cha của nó phải chịu hình phạt. Điều này sẽ khó có thể xảy ra, bởi vì học thức chung, nhận thức chung sẽ phản đối kịch liệt. Tất cả các công chức nhà nước, ngay cả các hội kín cũng vỗ trán, ngay cả các thành viên của viện quý tộc cũng sẽ lên tiến chống lại, và như vậy các ngài đã thấy, thưa các ngài, trong một giới hạn nhất định nhận thức chung, trình độ học thức chung cũng vậy, chúng là một mảng của Hiến pháp.

Hoặc tôi đặt ra trường hợp, chính phủ quyết định tìm cách thỏa mãn giới quý tộc, giới nhà băng, các nhà công nghiệp lớn và các nhà tư bản nói chung, nhưng ngược lại lại tước quyền tự do về chính trị của những công dân nhỏ bé và của người lao động. Liệu như vậy có được, thưa các ngài? Ui dĩ nhiên là phải được, thưa các ngài, điều đó xảy ra trong cả một thời gian dài; vâng điều đó đã tự cho thấy, hoàn toàn được, và chúng ta tiếp sau đây sẽ còn có cơ hội để xem xét lại điều này.

Thế nhưng bây giờ tôi lại đặt ra một trường hợp như thế này: người ta không chỉ muốn tước quyền tự do về chính trị của những công dân nhỏ bé và của những người lao động mà còn cả quyền tự do cá nhân nữa, có nghĩa là, người ta muốn tuyên bố, rằng họ về mặt cá nhân không còn được tự do, họ là nông nô và bị phụ thuộc, như họ thực sự là như vậy trong những thế kỷ xa xưa của thời trung cổ tại nhiều quốc gia. Liệu có thể được, thưa các ngài? Không, và nếu cả như nhà vua, giới quý tộc và toàn bộ tầng lớp tư sản thống nhất với nhau về điều đó-cũng không thể nào được! Bởi vì trong trường hợp này các ngài sẽ nói: chúng tôi thà chịu chết, chứ không thể chấp nhận điều đó.

Những người lao động sẽ đóng cửa nhà máy không cần có Borsig và Egels, họ sẽ xông ra đường, toàn bộ tầng lớp dưới sẽ ủng hộ họ, và do vì sự đoàn kết kháng cự của họ rất khó bị bẻ gãy, và như vậy các ngài thấy, thưa các ngài, rằng trong những trường hợp cực đoan nhất định bản thân các ngài tất cả là một mảng của Hiến pháp.

Như vậy bây giờ chúng ta đã nhận thấy, thưa các ngài, Hiến pháp của một quốc gia là cái gì, đó là: những mối tương quan quyền lực thực tế tồn tại trong một đất nước.

Bây giờ điều đó có liên quan đến mức nào với cái mà người ta thông thường gọi là Hiến pháp, với Hiến pháp mang tính pháp lý? Vâng, thưa các ngài, các ngài sẽ lập tức tự nhận ra, nó có liên quan như thế nào với điều đó!

Các mối tương quan quyền lực thực tế này người ta sẽ viết lên một tờ giấy, diễn đạt chúng bằng văn bản, và nếu như giờ đây một khi chúng được viết ra, như vậy chúng sẽ không chỉ là những mối tương quan về quyền lực nữa, mà bây giờ chúng đã trở thành luật, thành những thiết chế pháp lý, và những ai chống lại sẽ bị trừng phạt!

Cũng như vậy, thưa các ngài, bây giờ các ngài sẽ nhận ra, người ta đã thực hiện như thế nào trong việc diễn đạt bằng văn bản này đối với các tương quan quyền lực thực tế, mà nhờ đó nó trở nên mang tính pháp lý.

Ở đây người ta sẽ không viết vào đó: ông Borsig là một mảng của Hiến pháp, ông Mendelssohn là một mảng của Hiến pháp v.v..., mà người ta sẽ diễn đạt điều đó theo một cách, một kiểu tinh vi hơn nhiều.

Ví dụ như nếu người ta muốn quyết định: số ít những chủ công nghiệp lớn và các đại tư bản trong vương quốc được hưởng nhiều quyền lực hơn tất cả các tầng lớp trung lưu, công nhân và nông dân cộng lại, lúc này người ta sẽ tránh không thể hiện bằng văn bản dưới hình thức lộ liễu không che đậy như thế. Thay vì vậy người ta sẽ ban bố một đạo luật, ví dụ như đạo luật vô lý phân chia ba tầng lớp cử tri năm 1849, theo điều luật đó người ta đã chia dân chúng thành ba tầng lớp cử tri dựa trên mức độ tiền thuế mà cử tri đó phải nộp, và mức độ này dĩ nhiên phụ thuộc vào giá trị tài sản sở hữu của người đó.

Thưa các ngài, theo danh sách chính thức của nhà đương quyền công bố vào năm 1849 sau khi điều luật này được ban hành, khi đó trên toàn bộ nước Phổ có 3255600 cử tri, số này được chia làm ba tầng lớp như sau: thuộc tầng lớp thứ nhất có 153808 cử tri trên toàn nước Phổ, tầng lớp thứ hai gồm 409945 cử tri, tầng lớp thứ ba gồm 2691950 cử tri.

Tôi nhắc lại cho các ngài biết, thưa các ngài, rằng các con số này đều lấy ra từ tài liệu chính thức được công bố.

Chúng ta nhận thấy ở đây, 153808 người rất giàu được hưởng quyền lực chính trị tại nước Phổ ngang bằng với 2691950 người thuộc tầng lớp trung lưu, nông dân và công nhân cộng lại, hơn nữa con số 153808 những người rất giàu này và 409945 người tương đối giàu của tầng lớp thứ hai hợp lại có quyền lực chính trị nhiều hơn là của toàn bộ phần dân chúng còn lại, vâng 153808 người giàu có nhất và cùng với chỉ cần một nửa của số 409945 cử tri thuộc tầng lớp thứ hai hợp lại đã có nhiều quyền lực chính trị hơn là nửa còn lại của những người tương đối giàu có cộng với số 2691950 cử tri thuộc tầng lớp thứ 3.

Từ đó các ngài thấy đấy, thưa các ngài, người ta bằng cách như vậy đã đạt được kết quả y hệt như, nếu người ta viết ra những lời lộ liễu trong hiến pháp, chẳng hạn: một người giàu có cần được hưởng quyền lực chính trị gấp 17 lần những công dân khác hoặc ngang bằng với 17 người khác.

Trước khi điều luật "chia ba tầng lớp" này được ban hành, đã có một luât phổ thông đầu phiếu được xác định về mặt pháp lý qua điều luật ban hành vào ngày 08.04.1848, trong đó quy định mỗi một công dân bất kể giàu nghèo đều được hưởng luật bầu cử như nhau và như vậy có nghĩa là có một quyền lực chính trị như nhau trong việc tham gia xác định mục tiêu và ý chí của nhà nước. Như vậy các ngài thấy đấy, thưa các ngài, bằng chứng này đã chứng minh cho những gì tôi nói trước đây là có lý, rằng trên thực tế đáng tiếc là việc tước bỏ quyền tự do chinh trị của các ngài, những người thuộc tầng lớp trung lưu nhỏ bé và những công nhân, nông dân, đã xảy ra rất dễ dàng hơn là, nếu người ta chỉ tước bỏ một cách không trực tiếp và cực đoan của cải cá nhân, thân thể và tài sản của các ngài. Bởi vì các ngài khi đó đã để cho người ta tước đoạt quyền bầu cử một cách dễ dàng và cho đến nay tôi chưa hề thấy có một sự suy tính nào nhằm giành lại quyền này.

Tiếp tục, nếu như người ta muốn quy định trong Hiến pháp: một số nhỏ các đại địa chủ quý tộc cần được giành riêng quyền lực nhiều như những người giàu có, như những thành phần sung túc và những kẻ vô sản, nhiều quyền lực như của số cử tri bao gồm tất cả ba tầng lớp, như toàn bộ dân chúng cộng lại, khi đó người ta sẽ tránh viết những câu thô thiển, bởi vì các ngài chắc chắn đều nhận thấy, thưa các ngài, tôi nói lại lần cuối, tất cả những cái rõ ràng đều thô thiển-vì vậy người ta sẽ viết như sau trong Hiến pháp: cần phải lập nên một viện quý tộc với một số thành phần không đáng kể từ những đại diện của những địa chủ lâu đời và ổn định, sự chấp thuận của họ là cần thiết đối với những quyết định của hạ viện là đại diện cho toàn dân tộc và như vậy một nhúm những địa chủ lâu đời đã được trao một quyền lực chính trị ngang với ý chí chung của cả dân tộc và của tất cả những tầng lớp trong đó.

Và khi người ta tiếp tục muốn, rằng riêng nhà vua cần phải có quyền lực chính trị cũng nhiều bằng và còn nhiều hơn rất nhiều so với tất cả ba tầng lớp cử tri, nhiều hơn so với toàn bộ dân chúng và các địa quý tộc cộng lại, lúc này người ta sẽ làm như sau:

Người ta điền vào điều 47 của Hiến pháp: "Nhà vua nắm giữ mọi chức vụ trong quân đội", và trong điều 108 của Hiến pháp người ta sẽ ghi: "Không tồn tại việc tuyên thệ của quân đội đối với Hiến pháp." Và người ta sau đó xây dựng một lý thuyết cho nó, là cái trên thực tế lý thuyết này đóng vai trò nền tảng về mặt nguyên tắc trong nó, cụ thể lý thuyết nói, rằng nhà vua có một vị trí hoàn toàn khác đối với quân đội không giống như đối với các cơ quan nhà nước khác, ông ta trong mối quan hệ với quân đội không chỉ là vua, mà còn là một cái gì đó hoàn toàn khác, hoàn toàn đặc biệt, bí mật và không thể biết được, đối với điều này người ta đã sáng tạo ra chữ "Tổng tư lệnh", và, rằng do vậy quốc hội và nhân dân hoàn toàn không cần phải quan tâm đến quân đội, không can thiệp vào công việc và tổ chức của nó,mà chỉ cần chấp thuận ngân sách tài chính cho nó. Và người ta phải, như đã nói, phải thừa nhận-sự thật là trên hết-, rằng lý thuyết đương nhiên là một nền tảng nào đó cho điều 108 của Hiến pháp. Bởi vì một khi Hiến pháp quy định, việc quân đội và bản thân nhà vua không giống như tất cả các quan chức nhà nước khác là phải tuyên thệ đối với Hiến pháp, như vậy đương nhiên về mặt nguyên tắc điều đó đã tuyên bố, rằng quân đội đứng ngoài Hiến pháp và chẳng có gì liên quan đến nó, rằng quân đội chỉ và hoàn toàn chỉ có một mối liên hệ đối với cá nhân nhà vua, không có liên quan gì đến quốc gia.

Bằng cách đó đã đạt được điều nhà vua nắm giữ mọi vị trí trong quân đội và quân đội có một vị trí đặc biệt đối với nhà vua, cũng bằng cách đó đã đạt được việc quyền lực chính trị của một mình nhà vua không chỉ có nhiều bằng, mà còn gấp chục lần quyền lực của toàn bộ đất nước cộng lại, và thậm chí ngay cả khi, nếu quả thực quyền lực thực sự của đất nước mười, hai mươi và năm mươi lần lớn hơn là của quân đội. Nguyên do của sự dường như có vẻ mâu thuẫn này rất chi là đơn giản.


Quân đội, phương tiện quyền lực của nhà vua, là cái có tổ chức, có thể huy động bất kỳ lúc nào, có kỷ luật rất tốt và sẵn sàng hành động trong chớp nhoáng; quyền lực nằm trong nhân dân ngược lại, thưa các ngài, cho dù nó quả thực đúng là một quyền lực lớn vô tận, nhưng đó là quyền lực không có tổ chức; ý chí của nhân dân và đặc biệt mức độ cương quyết,để sẵn sàng thực hiện ý chí đó hoặc chưa chưa sẵn sàng, trong các các thành viên của nó điều này không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra, không ai biết chính xác, mình có thể tìm thấy được bao nhiêu người sát cánh với mình. Ngoài ra nhân dân còn thiếu các công cụ của một quyền lực có tổ chức, thiếu những nền tảng Hiến pháp quan trọng, mà chúng ta đã từng đề cập tới: đó là đại bác. Cho dù súng ống có thể mua được từ tiền của của công dân; cho dù chúng cũng chỉ được làm ra nhờ bởi khoa học, chúng được xã hội phát triển, được vật lý và kỹ thuật chế tạo nên và hoàn thiện. Chỉ riêng sự hiện diện của những súng ống này tự bản thân nó đã là bằng chứng thể hiện quyền lực của xã hội thị dân đã phát triển đến mức độ nào, tiến bộ khoa học, kỹ nghệ, các ngành công nghiệp và sản xuất đủ các kiểu đã phát triển ra sao. Nhưng ở đây nó cũng lại đúng cho câu thơ của Virgil: sic vos non vobis! Bạn tạo ra nó, nhưng không phải cho bạn! Bởi vì súng ống được chế tạo ra luôn chỉ giành cho quyền lực có tổ chức, vì vậy đất nước biết, rằng nó sẽ chỉ tìm thấy những đứa con và nhân chứng cho quyền lực của mình trong một cuộc xung đột ở phía bên kia chiến tuyến. Những lý do này là điều tạo nên căn nguyên cho việc một quyền lực nhỏ nhưng có tổ chức trong suốt một thời gian dài thường có thể là quyền lực chiếm ưu thế so với ngay cả những quyền lực lớn hơn nhiều nhưng không có tổ chức chẳng hạn như quyền lực của nhân dân, cho đến một lúc nào đó, trong việc tiếp tục quản lý và điều hành các vấn đề quốc gia theo một chiều hướng chống lại nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, quyền lực của nhân dân sẽ quyết định dùng cái siêu quyền lực nhưng không có tổ chức của mình chống lại cái quyền lực có tổ chức kia.