Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

Tật xấu trong giao tiếp - Sưu tầm

Thông điệp khác nhau đằng sau mỗi nụ cười

Ai đã từng ngắm cảnh bình minh chắc đều nhận thấy một điều là, ban đầu, bạn sẽ không nhìn thấy gì hết. Rồi dần dần mọi thứ mới hiện rõ hơn. Sau khi định thần lại, bạn sẽ thắc mắc tại sao vừa nãy mình lại không nhìn thấy cả những vật ở ngay trước mặt mà chỉ thấy một khối đen đặc và đồng nhất.

Đây cũng chính là cảm giác của tôi, một công dân Mỹ, khi tới Việt Nam - tôi như người đang đứng ngắm cảnh bình minh bắt đầu tỏa rạng.

Xin đơn cử ra đây một ví dụ: lần đầu tiên khi tới đất nước này, đối với tôi nụ cười chỉ đơn thuần là nụ cười, và nó truyền tải thông điệp về sự mừng vui. Nhưng cho tới giờ, dù tổng số thời gian tôi ở Việt Nam chỉ vẻn vẹn có 4 tuần, song kho từ vựng của tôi về các kiểu cười đã được mở rộng đáng kể.

Chẳng hạn, có nụ cười mang ý: "Đúng, anh có thể làm việc đó", nhưng cũng lại có nụ cười như muốn bảo: "Anh không được làm như thế đâu!". Có nụ cười thể hiện rằng: "Tôi rất vui được gặp anh", nhưng cũng có nụ cười hàm ý ngược lại.

Giáo Sư David Pickus


Ngoài ra còn một số kiểu cười thể hiện tâm trạng không mấy vui vẻ của chủ nhân như: "Tôi rất thất vọng", "Tôi không hiểu", "Tôi đang bực mình đây", và "Tôi muốn anh xéo đi chỗ khác!"

Trước đây, những nụ cười này chỉ mang một hoặc một vài ý nghĩa dễ hiểu. Thế mà giờ đây chúng lại đan xen biết bao nhiêu lớp nghĩa, khiến tôi không khỏi băn khoăn rồi theo thời gian, sẽ có thêm bao nhiêu ý nghĩa nữa được gán cho nụ cười của người Việt Nam.

Người phương Tây khi tới khu vực Đông Nam Á thường hay bình luận hoặc phàn nàn về những khó khăn trong giao tiếp cũng như về cái "khó hiểu" của người dân sở tại. Tôi không nói rằng người Việt khó hiểu, song để hiểu được họ chắc tôi cũng phải đầu tư kha khá thời gian.

Những khác biệt về của cải

Tôi đã hai lần tới Việt Nam (và hy vọng sẽ được quay lại đây nhiều lần nữa). Dưới đây là một số quan sát của tôi về người Việt, hay chính xác hơn là những quan sát này giúp tôi tìm hiểu rõ hơn về con người Việt.

Cái mà tôi nhận thấy nhiều nhất - cũng là cái "che mắt" tôi nhiều nhất - là những khác biệt về của cải.

Người phương tây chẳng gặp khó khăn gì khi bắt chuyện với người Việt. Nếu bạn tỏ ra thân thiện, lịch sự, và đi một mình, thì hầu như ai cũng sẵn lòng nói chuyện với bạn. Vì tôi không biết tiếng Việt, nên những cuộc trò chuyện của tôi rất phong phú, từ thứ ngôn ngữ cơ thể đơn giản cho tới những cuộc thảo luận sâu sắc với các học giả sở tại thông thuộc ngoại ngữ.

Người ta nói với tôi rằng (tuy tôi chưa có cách nào kiểm chứng điều này cả) người Việt Nam thường thân thiện với người nước ngoài hơn là với chính người đồng hương. Nhưng có một điều tôi chắc chắn, đó là trong nhiều quốc gia tôi từng đặt chân tới, thì Việt Nam là một trong những điểm đến ưa thích của tôi, bởi vì ở đây tôi có thể có những cuộc chuyện trò ý nghĩa với nhiều người.

Vì vậy mà tôi mới nhận thấy một vấn đề về tiền bạc. Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, Việt Nam đã và luôn là một nơi an toàn và tin cậy để thực hiện các hoạt động kinh doanh. Tôi không phàn nàn gì về những lối cư xử thiếu công bằng ở đây. Thực ra, tôi không có gì phải phàn nàn cả, chỉ đơn giản là một nhận xét thôi.

Người Việt không nên cho rằng vì họ không công khai thể hiện thái độ của mình mà người phương Tây không biết họ suy nghĩ ra sao về chuyện tiền bạc.

Ngược lại, tôi lại quan sát được điều này khá thường xuyên; và chẳng khó khăn gì để đoán được suy nghĩ trong đầu một ai đó khi họ đang có những ý nghĩ dạng như: "Anh ta có nhiều tiền hơn mình, thế thì tại sao anh ta lại không mua nó nhỉ?", và "Nên làm gì để ra vẻ rằng mình không quan tâm tới tiền nong đây?"

nụ cười không mất tiền mua


Đến đây xuất hiện một điểm quan trọng - mà tôi hy vọng rằng nó sẽ không bị bỏ qua. Tôi không cảm thấy khó chịu khi thấy người Việt Nam suy nghĩ về tiền bạc.

Xã hội phương Tây, đặc biệt là xã hội Mỹ, đã lầm khi nghĩ rằng lúc nào cũng nên coi người châu Á là khác lạ. Ông bà tôi là người nhập cư, và cả ba thế hệ trong gia đình tôi đều đã phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày, nhọc công vắt sức ra để kiếm tiền.

Thực tế này không có nghĩa là nền văn hoá của chúng ta giống nhau, hay là người Mỹ không cần phải làm gì để hiểu cho rõ về tình hình xã hội ở Việt Nam.

Nhưng như thế có nghĩa là một cuộc nói chuyện thẳng thắn về tiền bạc không phải là điều gì đáng ngại ngùng, có hại, hay phản tác dụng cả. Thật ra, nó có thể khiến mọi việc trở nên tốt đẹp hơn.

"Xin đừng nói có, nếu bạn không muốn"

Khi ở Việt Nam tôi học được câu "Vấn đề đầu tiên là tiền đâu". Tôi đã viết câu đó lên một mảnh giấy rồi giơ lên cho những người khác xem với hy vọng rằng nó sẽ giúp cho cuộc nói chuyện của chúng tôi trở nên thành thật và thẳng thắn hơn. Thẳng thắn không phải là một đức tính xấu.

Theo tôi, điều này dẫn tới một thách thức lớn trong việc xây dựng mối quan hệ cá nhân tốt đẹp hơn giữa người Việt Nam và người Mỹ.

Vấn đề chính không phải là mâu thuẫn, dù rằng chúng ta có thể làm nhiều hơn nữa để đóng góp cho những cuộc thảo luận về các mâu thuẫn giữa hai dân tộc trong cả quá khứ và hiện tại.

Cái nguy hại ở đây là quan điểm cho rằng vì cơ hội tiếp xúc giữa người dân hai nước ngày càng lớn, nên mặc nhiên điều đó sẽ tự động củng cố sự hiểu biết lẫn nhau, hoặc cái sự hiểu biết này là không thật cần thiết.

Tôi xin nói về quan điểm thứ hai trước: chẳng phải tìm đâu xa, lần gần đây nhất tới thăm Việt Nam, tôi đã nhận thấy nhiều dấu hiệu đáng lo ngại cho thấy sự tức giận ngày càng gia tăng cả về phía người dân Việt Nam và người phương Tây.

Du khách phương Tây tới Sapa không giấu nổi những khó chịu vì liên tục bị làm phiền, khiến họ không thể tự do chiêm ngưỡng cảnh đẹp nơi cao nguyên, còn những người bán dạo địa phương thì tỏ rõ vẻ bực dọc khi mà du khách còn chưa đi khỏi.

địa điểm du lịch đông đúc


Cái vòng tròn quẩn quanh này tồn tại ở bất kỳ địa điểm du lịch đông đúc nào, song nó cũng là một dấu hiệu cho thấy cần phải xây dựng mối quan hệ giữa người Việt Nam và người phương Tây trên một nền tảng bền vững hơn so với hiện nay. Gia tăng hiểu biết lẫn nhau là một yêu cầu bắt buộc.

Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thể hiểu nhau hơn nếu chỉ biết "cười" suông như vậy, bởi cái cần có ở đây là những cuộc nói chuyện thành thật và chi tiết.

Cũng trong chuyến đi vừa rồi, tôi thậm chí còn nhờ người viết dòng chữ "Xin đừng nói có, nếu bạn không muốn" lên giấy và đưa cho bạn bè đọc trong cuộc nói chuyện giữa chúng tôi.

Một trong những rào cản lớn nhất trong giao tiếp là đối phương không thể biết khi bạn nói "có" thì thực lòng bạn có nghĩ đúng như vậy không. Bây giờ thì tôi không còn vồ vập học cách diễn giải nụ cười của người Việt Nam nữa.

Tôi không mong rằng họ sẽ thay đổi hoàn toàn cách sống của mình, bởi bản thân tôi cũng không thể làm được như thế. Nhưng tôi hy vọng rằng chúng ta sẽ cùng hướng tới một mục tiêu chung là xây dựng một mối giao tiếp tích cực hơn, chất lượng hơn.

Quay trở lại với hình ảnh cảnh vật từ từ ló hiện sau màn đêm, tôi nhận thấy rằng mối quan hệ giữa người Việt Nam và người phương Tây đang tiến dần đến giai đoạn "bình minh" rồi.

Điều này đôi khi sẽ gây thêm nhiều khó khăn vì chúng ta không còn nhiều "bóng tối" để có thể giấu mình lại. Nhưng nó cũng khiến mọi việc trở nên tốt đẹp hơn vì tuy chúng ta kết thêm bạn mới nhờ vào những nụ cười, cử chỉ hay thói quen, song chúng ta lại không thể trở thành những người bạn mới được.

Mà những tình bạn mới và tốt đẹp hơn lại là những thứ chúng ta cần.

Thuỷ Nguyệt dịch
Nguồn: VNR500.vn

Politic

http://www.viet-studies.info/kinhte/Thu_NguyenTrongVinh_2.htm

Thứ Tư, 22 tháng 9, 2010

Thành Cát Tư Hãn Và Con Chim Ưng

Tác Giả : Margaret Jull Costa / Hoàng Ngọc Trâm (dịch)
CPS ĐẶNG NGỌC Gửi từ Pháp

Buổi sáng nọ, một chiến sĩ Mông-Cổ, Thành Cát Tư Hãn, và các thuộc hạ của ông đi săn. Những người cùng đi với ông mang theo cung tên, nhưng Thành Cát Tư Hãn mang theo trên cánh tay của ông con chim ưng mà ông yêu thích: nó sẽ bắt mồi nhanh hơn và chính xác hơn bất cứ mũi tên nào, bởi vì nó có thể bay vút lên trời cao và nhìn thấy mọi vật mà con người không thể thấy.

Tuy nhiên, mặc cho mọi cố gắng nhiệt tình của họ, họ vẫn không thể tìm thấy gì cả. Thất vọng, Thành Cát Tư Hãn quay lại chỗ cắm trại, và để khỏi phải cáu kỉnh với đám thuộc hạ, ông rời nhóm, cỡi ngựa đi một mình. Họ đã ở lại trong rừng lâu hơn dự tính, và Thành Cát Tư Hãn cảm thấy vô cùng mệt mỏi và khát nước. Trong sức nóng của mùa hè, mọi dòng suối đều khô cạn, và ông không tìm được nước để uống. Thế rồi, hết sức ngạc nhiên, ông nhìn thấy một dòng nước nhỏ chảy ra từ một tảng đá ngay trước mặt ông.

Ông nhấc con chim ưng ra khỏi cánh tay, và lấy ra chiếc cốc bằng bạc mà lúc nào ông cũng mang theo bên mình. Thật lâu nước mới chảy đầy cốc và, ngay lúc ông đưa chiếc cốc lên môi mình, con chim ưng bay lên và giật chiếc cốc từ tay ông rồi ném nó xuống đất.

Thành Cát Tư Hãn giận lắm, nhưng vì con chim ưng rất được ông yêu thích nên ông cho rằng có lẽ nó cũng khát nước. Ông cúi xuống nhặt chiếc cốc lên, lau sạch bụi đất, và lại hứng nước vào cốc. Lần này, khi nước chỉ mới được nửa cốc, con chim ưng lại lao đến tấn công và làm đổ nước lần nữa.

Thành Cát Tư Hãn rất quý con chim, nhưng ông không thể chấp nhận sự vô lễ như thế trong bất cứ hoàn cảnh nào; không chừng có ai đó nhìn thấy cảnh này từ xa và, sau đó, sẽ kể lại cho các chiến binh của ông rằng một nhà chinh phục vĩ đại mà lại không thể thuần hoá nổi chỉ một con chim.

Lần này, ông rút kiếm ra khỏi vỏ, nhặt chiếc cốc và lại hứng nước, một mắt canh chừng dòng nước chảy, còn mắt kia để ý đến con chim ưng. Ngay lúc ông có đủ nước trong cốc và sắp uống, thì con chim ưng lại bay lên và lao về phía ông. Thành Cát Tư Hãn, với một nhát kiếm, đâm thủng qua lồng ngực con chim.

Tuy nhiên, dòng nước kia cũng đã khô cạn; và Thành Cát Tư Hãn quyết định tìm một cái gì đó để uống, ông leo lên tảng đá để tìm nguồn suối. Ông kinh ngạc khi thấy quả nhiên có một vũng nước, và ngay giữa vũng nước đó là xác một con rắn độc nguy hiểm nhất của miền đất này. Nếu ông lỡ uống nước đó, chắc hẳn ông đã chết rồi.

Thành Cát Tư Hãn quay lại chỗ cắm trại, ôm theo xác chết của con chim ưng. Ông ra lệnh làm một bức tượng chim bằng vàng, và trên một cánh chim, ông khắc dòng chữ:

Thậm chí khi một người bạn làm điều gì đó anh không thích, người đó vẫn cứ là bạn của anh.

Và trên cánh bên kia, ông khắc dòng chữ:

Bất cứ hành động nào được thực hiện trong sự giận dữ đều là hành động đưa đến sự thất bại.

Doubles Standards !?!

Trung Quốc - Nhật - Việt Nam: Double standards (SCMP 21-9-10) -- Greg Torode vạch mặt chỉ tên cái "chuẩn kép" của Trung Quốc: Khi họ bắt ngư thuyền của ta thì họ cho là họ có quyền, mà khi Nhật bắt tàu của họ thì họ bù lu bù loa! Cái "chuẩn kép" này ai cũng thấy, vậy mà báo chí Việt Nam im re! Chán thật!

Hãy sống có ý nghĩa với cái mình có được








BẠN VẪN CÒN THAN PHIỀN?

Hãy quan sát xung quanh mình và cảm ơn những gì mình đang có trên cuộc đời ngắn ngủi này

Chúng ta thật may mắn, chúng ta có nhiều hơn những gì mà chúng ta cần để bằng lòng

Chúng ta hãy than phiền ít hơn và hãy cho nhiều hơn

  • Da Vàng (sưu tầm, bình luận)


Thứ Ba, 21 tháng 9, 2010

CAY BUT CHI

Tôi Là Cây Bút Chì[*]

Gia phả của Tôi theo Lời kể của Leonard E. Read

Leonard E. Read (1898-1983) thành lập Tổ chức Giáo dục Kinh tế (Foundation for Economic Education-FEE) năm 1946 và làm chủ tịch của tổ chức này cho đến khi qua đời. FEE là một trong những trung tâm nghiên cứu tự do (think tank) đầu tiên của Mỹ.

"Tôi, Cây Bút Chì," tiểu luận nổi tiếng nhất của ông, được ấn hành tháng 12, 1958 trong tạp chí Người Tự Do. Dù có một vài những thay đổi trong cách thức và nơi sản xuất bút chì, những nguyên tắc trong bài này vẫn không đổi.

-------------------------------------

.

Tôi là một cây bút chì - một cây bút chì bằng gỗ, tầm thường và quen thuộc với những em học sinh và người lớn biết đọc và biết viết.

Viết vừa là nghề chính vừa là nghề phụ và là thú vui của tôi. Đó là những việc tôi làm. Có thể bạn đang thắc mắc là tại sao tôi lại viết về gia phả của mình. Xem nào, để bắt đầu, phải nói là câu chuyện đời tôi là một chuyện rất thú vị. Và thứ nữa, tôi là một bí ẩn--còn bí ẩn hơn cả một cái cây hay một buổi hoàng hôn, hay ngay cả một tia chớp. Nhưng, buồn thay, những người dùng tới tôi vẫn thản nhiên sử dụng và chẳng buồn tìm hiểu nguồn gốc của tôi như thế nào, cứ như thể sự hiện hữu của tôi chỉ là một tình cờ ngẫu nhiên và chẳng có căn nguyên chi hết. Cái thái độ rẻ rúng ấy đẩy tôi xuống hạng những đồ vật hạng xoàng. [Nhưng] Đó là một loại sai lầm khủng khiếp mà nhân loại không thể tồn tại lâu dài được mà không gặp nguy hiểm. Lý do là vì, như nhà thông thái G. K. Chesterton đã nói: "Chúng ta bị héo tàn đi vì thiếu sự tò mò, chứ không phải vì thiếu những điều kỳ diệu."

.

Tôi, Cây Bút Chì, dù có bề ngoài đơn giản, đáng để cho các bạn phải kinh ngạc, vâng, đó là điều mà tôi sẽ cố thuyết phục các bạn. Thực ra, nếu bạn có thể hiểu tôi - không, đối với nhiều người, đây quả là một đòi hỏi quá đáng - hay nếu bạn có thể cảm nhận sự huyền diệu được hình tượng hóa qua bản thân tôi, thì bạn có thể giúp cho nhân loại bảo vệ được sự tự do đang bị mất dần đi. [Cuộc đời tôi] là một bài học thâm thúy. Và bản thân tôi có thể dạy bài học này hay hơn một chiếc xe hơi hay một cái máy bay, hay một cái máy rửa chén, bởi vì, thực ra, tôi có một bề ngoài đơn giản.

Đơn giản? Đúng thế! Nhưng tôi dám cá là không có một cá nhân nào trên trái đất này biết cách chế tạo ra tôi. Nói nghe có vẻ lập dị, phải không các bạn? Nhất là khi ta thấy có vào khoảng một tỷ rưỡi cây bút chì được chế tạo hàng năm tại nước Mỹ.

Xin bạn hãy cầm tôi lên và ngắm nghía xem. Bạn thấy gì nào? Chẳng có gì hấp dẫn đôi mắt cả--một chút gỗ, chút sơn, cái nhãn hiệu, than chì, chút kim loại, và một cục tẩy.

.

Vô số tiền nhân

Nếu như bạn không thể truy nguyên gia phả của bạn từ nhiều đời trước, thì đó cũng là điều bất khả cho tôi để kể tên và giải thích tất cả những tiền nhân của mình. Nhưng tôi cũng cố kể ra một số đủ để lấy le với bạn về cuộc đời phong phú và phức tạp của tôi.

Cây gia phả của tôi bắt đầu, thực ra, là một cái cây, chính là một cây tuyết tùng có thớ gỗ thẳng, mọc tại miền bắc của tiểu bang California và tiểu bang Oregon. Bây giờ bạn hãy thử tưởng tượng ra tất cả những nào cưa, nào xe vận tải, dây chão và vô số những dụng cụ khác nhau để đốn những cây tuyết tùng xuống và kéo ra lề đường. Hãy thử nghĩ đến tất cả những người thợ và vô vàn những kỹ thuật cần thiết tạo nên nghề thợ rừng: đào mỏ lấy quặng sắt, luyện thép và chế biến thành lưỡi cưa, lưỡi búa, động cơ; việc trồng những cây gai dầu và quá trình chế biến thành những sợi dây chão to lớn và chắc chắn; rồi những trại cưa có phòng ngủ và phòng ăn và bếp núc cho nhân viên. Có cả hàng ngàn người không ai biết đến đã góp phần vào tạo nên một ly cà phê buổi sáng cho những người thợ rừng.

Những thân gỗ sau khi đốn xong được chuyên chở bằng xe lửa tới một nhà máy cưa ở San Leandro, bang California. Bạn có thể tưởng tượng ra những người chế tạo ra những toa xe lửa, đường rầy và những kỹ sư hỏa xa đã chế tạo và xây dựng ra những hệ thống thông tin phụ thêm vào đó? Những điều này thuộc về vô số tiền nhân của tôi.

Bây giờ hãy xem đến nhà máy xẻ gỗ ở San Leandro. Những thân gỗ tuyết tùng được xẻ thành những lát gỗ mỏng và cưa thành những thanh gỗ có chiều dài bằng cây bút chì, dầy khoảng 0.6 phân. Rồi lại còn có những lò nướng và nhuộm màu cho những thanh gỗ này như kiểu phụ nữ thoa phấn lên mặt. Người ta muốn tôi có màu sắc đẹp đẽ chứ không phải màu trắng nhợt nhạt của gỗ. Xong rồi những thanh gỗ này được thoa sáp và nướng khô thêm một lần nữa. Bao nhiêu kỹ thuật đã đổ vào việc chế tạo nên lò nướng và máy nhuộm, vào việc tạo ra sức nóng, điện lực và ánh sáng, động cơ, dây cu-roa, và những vật dụng cần thiết khác trong một nhà máy cưa? Phải kể luôn những người thợ quét dọn nhà máy nữa chứ? Vâng, và phải kể luôn những người đã đổ bê-tông làm nên cái đập thủy điện cho Công ty Điện lực và Khí đốt thiên nhiên Thái Bình Dương, tức là công ty cung cấp điện cho nhà máy cưa này.

Cũng đừng nên quên những bậc tổ tiên hiện tại và quá khứ của tôi đã góp phần vào việc chuyển vận sáu mươi toa xe chở những thanh gỗ đi khắp nước.

Rồi vào đến xưởng làm bút chì--gồm có bốn triệu đô-la tiền máy móc và nhà cửa, tất cả vốn liếng tích lũy từ bao nhiêu tổ tiên của tôi ky cóp để dành--mỗi thanh gỗ được xẻ 8 cái rãnh bằng một cái máy rất phức tạp, sau đó một cái máy khác đặt chì vào những thanh gỗ khác, rồi được trét keo và đặt chồng lên nhau như những miếng bánh sandwich kẹp chì vậy. Tôi và 7 anh em khác được "đẻ" ra từ cái bánh mì kẹp chì này.

Cái "ruột" chì của tôi, gọi như vậy chứ thật ra chẳng có chút chì nào cả, cũng rất phức tạp. Bột than (chì) được lấy lên từ mỏ ở Ceylon. Hãy nghĩ đến những người thợ mỏ và những người thợ làm bao nhiêu những vật dụng khác và những người thợ làm bao giấy đựng bột than chì để chuyên chở, rồi những người thợ làm dây để buộc những bao này lại, rồi những công nhân bốc vác những kiện hàng này lên tàu thủy, rồi những người thợ đóng tàu thủy nữa. Ngay cả những người giữ hải đăng và những người tài công lái tàu ra vào hải cảng cũng góp phần vào việc sinh sản ra tôi.

Bột than chì được trộn với đất sét lấy từ Mississippi có chứa dung dịch ammoniac và được dùng trong quá trình tinh luyện. Rồi thì những hóa chất lỏng khác được thêm vào như chất mỡ sulfate--một loại mỡ động vật có phản ứng hóa học với axit sulfuric. Sau khi chảy qua vô số máy móc, hợp chất này cuối cùng được bơm ra thành những sợi dài, giống như từng thỏi xúc-xích, được cắt đúng cỡ và nướng thêm vài giờ với nhiệt độ 1010 độ C. Nhằm gia tăng độ cứng và trơn láng của những thỏi "chì," chúng được nhúng vào một hợp chất nóng gồm có chất sáp làm nến lấy từ Mexico, sáp paraffin, và mỡ động vật được hy-drô hóa.

Cái vỏ gỗ tuyết tùng của tôi được sơn sáu lớp sơn láng. Bạn có biết loại sơn láng (làm sơn mài) có bao nhiêu chất không? Ai có thể nghĩ rằng những người nông dân trồng cây thầu dầu và những người thợ ép thầu dầu cũng dự phần trong tiến trình này? Nhưng mà thật như vậy đó. Ngay cả tiến trình pha sơn thành màu vàng đẹp đẽ cũng cần tay nghề của vô số bao nhiêu người.

Hãy xem đến cái nhãn hiệu. Đó là một lớp màng mỏng tạo nên bởi than đen trộn với nhựa cây và được hơ nóng. Bạn có biết người ta lấy nhựa cây như thế nào không?

Tôi có một chút xíu kim loại--cái vòng bịt đuôi cây bút chì--làm bằng thau. Bạn hãy nghĩ đến tất cả những người thợ mỏ kẽm và đồng và những người có tay nghề tạo nên những tấm thau sáng loáng từ những sản phẩm đó của thiên nhiên. Còn cái vòng màu đen trên cái vòng bằng thau đó làm bằng chất kền màu đen. Kền màu đen là cái gì và dùng nó như thế nào đây? Để biết được tại sao ở giữa cái vòng bịt bằng thau đó lại không có vòng kền màu đen cũng phải mất thêm cả bao nhiêu trang nữa để giải thích.

Rồi đến cái vương miện của tôi, vẫn thường được gọi nôm na là "cái mấu," tức là chỗ giữ cục tẩy để người ta xóa đi những chỗ viết sai. Cái chất gọi là "factice" chính là cái chất "tẩy" đi những chỗ viết sai. Cái chất này cũng giông giống như chất cao-su, nhưng thực ra là hợp chất của dầu hạt cải Canola trộn với chất sulfur chloric. Chất cao-su, trái với những gì ta nghĩ, không "tẩy" được và chỉ dùng để dính hợp chất này lại mà thôi. Rồi còn vô số những hóa chất và chất xúc tác khác. Còn thêm chất đá bọt đến từ Ý đại lợi và chất phẩm màu để nhuộm cái mấu là từ hợp chất cadmium sulfide.

Không một ai biết

Còn có ai muốn thử với điều tôi khẳng định ban đầu là không có một người duy nhất nào trên trái đất biết cách làm ra tôi không?

Thực ra, hàng triệu người đã góp tay vào việc cấu tạo nên tôi, nhưng mà không có ai biết được những người khác. Bạn cũng có thể nói rằng tôi đã nói phóng đại khi liên kết một người hái trái cà phê ở xứ Ba-tây xa lắc và những người trồng thực phẩm ở chỗ nào đó với sự cấu tạo ra tôi. Nhưng tôi vẫn giữ lập trường. Đó là, không có một người duy nhất nào trong số những triệu người này, kể cả ông chủ xếp sòng của công ty sản xuất bút chì, là người đã đóng góp hơn một phần nho nhỏ cách thức tạo ra tôi. Sự khác nhau giữa người thợ mỏ ở Ceylon và người thợ rừng ở Oregon là sự khác nhau về cách thức. Cả hai người thợ này không thể thiếu được, cũng như nhà hóa học trong xưởng hay người công nhân tại giếng dầu hỏa (sáp paraffin làm từ dầu hỏa) cũng không thể thiếu được.

Đây cũng là một sự kiện đáng ngạc nhiên nữa. Đó là, tất cả những người dính dáng đến tiền thân của tôi, từ người công nhân làm việc ở giếng dầu hỏa, đến nhà hóa học, hay người thợ mỏ đào than chì và đất sét, hay bất cứ ai chế ra tàu thủy, xe lửa, hay xe vận tải, hay những người thợ chạy cái máy làm "vương miện" cho tôi, hay ông chủ tịch hãng làm bút chì...làm những công việc của họ...đều không cần đến tôi. Mỗi người trong số những người này không cần tôi bằng một em bé đang học lớp một. Thực ra, có một số người trong hằng hà sa số những người này chưa bao giờ thấy một cây bút chì chứ đừng nói gì đến sử dụng nó. Động lực để họ làm việc là điều gì khác chứ không phải tôi. Có lẽ phải nói như thế này: Mỗi người trong số hàng triệu người này thấy rằng họ có thể trao đổi một tí ti kiến thức về cách thức chế tạo đồ dùng và dịch vụ của họ với những nhu cầu khác mà họ cần. Tôi có thể không nằm trong danh sách những nhu cầu của họ.

Không có Nhà Tổng Đạo Diễn

Có một sự kiện còn đáng ngạc nhiên hơn: sự vắng bóng của một nhà tổng đạo diễn, một người chỉ đạo và ra mệnh lệnh điều khiển vô vàn những hoạt động kể trên để tạo ra tôi. Ta không tìm được dấu tích của một người như vậy. Thay vào đó, ta thấy có một Bàn Tay Vô Hình đang điều động mọi sự. Đó cũng chính là sự bí ẩn tôi nói tới lúc ban đầu.

Người ta thường nói là "Chỉ có Thượng đế mới có thể tạo ra một cái cây." Tại sao ta đồng ý với câu nói này? Chẳng phải vì ta nhận thức được là con người không thể tạo ra được một cái cây hay sao? Thực ra, liệu ta có thể mô tả được một cái cây hay không đã? Ta không thể làm được điều này ngoài một số những miêu tả hời hợt. Ta có thể nói, thí dụ như thế này, là một cấu trúc phân tử nào đó đã thể hiện thành một cái cây. Nhưng có một bộ óc con người nào đã có thể ghi chép lại, chứ đừng nói đến việc chỉ đạo, những thay đổi liên tục trong những phân tử đã diễn ra trong đời sống của một thân cây không? Đó là một kỳ tích không thể nào tưởng tượng nổi!

Tôi, Cây Bút chì, là một sự kết hợp phức tạp của nhiều điều kỳ diệu: một cái cây, kẽm, đồng, bột than, vân vân. Nhưng thêm vào trong những điều kỳ diệu đã thể hiện trong thiên nhiên còn có một điều kỳ diệu hơn nữa: sự phối hợp những năng lực sáng tạo của con người--hàng triệu những kiến thức nhỏ bé được phối hợp một cách tự nhiên và tự phát nhằm đáp ứng nhu cầu và ước muốn của con người mà không có một bàn tay đạo diễn nào của con người cả! Vì chỉ có Thượng Đế mới tạo ra được một cái cây, tôi khẳng quyết là chỉ có Ngài mới tạo ra tôi. Con người chẳng có thể làm gì hơn là sắp xếp hàng triệu những phương thức sản xuất lại cũng như Ngài đã phối hợp những phân tử lại để tạo ra một cái cây.

Đó chính là những điều tôi muốn nói khi viết rằng: "nếu bạn có thể cảm nhận sự huyền diệu được hình tượng hóa qua bản thân tôi, thì bạn có thể giúp cho nhân loại bảo vệ được sự tự do đang bị mất dần đi." Vì, nếu ta ý thức được rằng những phương thức sản xuất này sẽ, một cách tự nhiên và tự động, sắp xếp lại thành những công thức sản xuất đầy sáng tạo để đáp ứng những nhu cầu của con người--nghĩa là không có sự hiện diện của chính quyền hay một sự chỉ đạo mang tính cưỡng bách nào--thì con người sẽ thủ đắc được phần tử tuyệt đối cần thiết cho tự do: Niềm tin vào những con người tự do. Tự do sẽ không thể nào hiện hữu được nếu thiếu niềm tin này.

Một khi mà nhà nước có được độc quyền về một hoạt động sáng tạo, thí dụ như phân phát thư tín, thì hầu hết người ta sẽ nghĩ rằng thư tín sẽ không thể nào được phân phối một cách hữu hiệu bởi những người hoạt động một cách tự do. Và đây là lý do: Mỗi người trong chúng ta nhìn nhận rằng mình không biết mọi cách thức liên quan đến việc phát thư, đồng thời cũng nhận thức rằng không một cá nhân nào có thể biết hết được. Đó là những nhận thức đúng đắn. Không một cá nhân nào có thể biết được hết mọi cách thức phân phối thư tín cho toàn quốc, cũng như không có ai biết hết mọi cách thức làm ra cây bút chì. Và, khi mà ta không có niềm tin vào con người tự do--niềm tin rằng hàng triệu những phương thức sản xuất nho nhỏ sẽ tự động và tự nhiên phối hợp lại để tạo ra sản phẩm--thì người ta không thể nào mà không kết luận, một cách sai lầm, rằng thư tín chỉ có thể được phân phối bởi và qua sự "đạo diễn" của nhà nước.

Những bằng chứng hùng hồn

Nếu Tôi, Cây Bút Chì, chỉ là một đồ vật được dùng làm bằng chứng cho sự sáng tạo của con người khi họ được tự do để thử nghiệm, thì lập luận của những người thiếu niềm tin sẽ tương đối đứng vững. Nhưng, có vô số bằng chứng như vậy trên mọi lãnh vực. Việc phân phối thư từ coi vậy chứ thực đơn giản khi ta so sánh với, thí dụ, việc ráp một chiếc xe hơi hay một cái máy tính hay một cái máy xay lúa hay một cái máy tiện hay hàng chục ngàn những điều khác nữa. Phân phối ư? Trên lãnh vực này khi người ta được tự do thử nghiệm, đã gởi giọng nói của con người vòng quanh trái đất trong vòng không tới một giây đồng hồ; họ đã chuyển đi hình ảnh và tiếng nói trực tiếp tới nhà khi sự việc đang xảy ra; họ đã chuyển 150 hành khách từ Seattle tới Baltimore[1] dưới 4 tiếng đồng hồ; họ đã chuyển xăng dầu từ Texas tới New York bằng một giá rẻ không ngờ và chẳng cần trợ cấp của chính phủ; họ đã chuyển 4 ký dầu hỏa từ Vịnh Ba Tư tới bờ phía đông nước Mỹ với một giá rẻ hơn là bưu phí gửi một lá thư qua bên kia đường.

Bài học mà tôi muốn truyền đạt như thế này: Hãy để cho tất cả những năng lực sáng tạo được tự do. Xã hội chỉ cần được tổ chức để hoạt động hài hòa với bài học này. Hãy để bộ máy pháp luật của xã hội dẹp bỏ hết những chướng ngại cho sự tự do càng nhiều càng tốt. Hãy để cho những phương thức sản xuất đầy sáng tạo được tự do tuôn chảy. Hãy có niềm tin là những con người tự do sẽ tương tác hài hòa với Bàn Tay Vô Hình. Niềm tin này sẽ được xác lập. Tôi, Cây Bút Chì, dù bản thân tôi rất ư là đơn giản đã thể hiện được sự kỳ diệu của sự sáng tạo ra tôi; đó là một bằng chứng hùng hồn cho thấy đây là một niềm tin thực tiễn và thực tế, cũng có thực như trời nắng, trời mưa, cây tuyết tùng, và trái đất của chúng ta.

© Học Viện Công Dân 2010

Nguồn: http://www.econlib.org/library/Essays/rdPncl1.html

[1] Seattle là thành phố thuộc bang Washington thuộc miền tây nước Mỹ, Baltimore là thành phố thuộc bang Maryland thuộc miền đông nước Mỹ.

[*] Tên chính thức của tôi là Mongol 482. Những bộ phận tạo nên tôi được lắp ráp, chế tạo, và hoàn tất tại xưởng của Công ty Bút chì Eberhard Faber (công ty sản xuất bút chì nổi tiếng trên thế giới; được thành lập tại Đức năm 1922, được công ty Faber-Castell (Mỹ) mua lại năm 1994, và sau trở thành một bộ phận của công ty PaperMate của Mỹ).

Thứ Tư, 15 tháng 9, 2010

Một bài hay - Sưu tầm để suy nghĩ nhiều hơn

Trước khi hỏi Xê-muốc là gì, có lẽ chúng ta nên hỏi Cộng sản là gì - mặc dù, xin nói ngay là Xê-muốc và Cộng sản chẳng mắc mớ gì với nhau.

Để hiểu được chế độ Cộng Sản thật sự là gì, người ta phải sống với nó.

Cơ bản, Cộng sản cấm chỉ sự thể hiện bản năng con người. Chủ trương mọi người phải học cách sống, cách nghĩ, cách nói như một người - điển hình như Pavel (nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết Thép Đã Tôi Thế Đấy) - người thanh niên dâng hiến cuộc đời để phục vụ Đảng Cộng sản.

Thời sau 75, tôi đọc những tác phẩm nổi tiếng của chế độ mới. Trong những Hòn Đất, Đất Nước Đứng Lên,… hình ảnh chị Út Tịch, chị Sứ, anh Núp,… na ná như Pavel - Pavel lại na ná như những nhân vật bị cấy Sinh Tử Phù trong Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung. Càng đọc, càng ngạc nhiên, càng thất vọng. Một nền văn học tuyên truyền, sống bằng những nhân vật giả tưởng. Văn học không phản ảnh đời sống hiện thực xã hội. Nhưng mà không phải, sau này tôi nghiệm ra nó phản ảnh ngược. Người ta nói những điều không làm, và làm những điều không nói. Con người luồn lách giữa thật và giả để tồn tại. Làm thế nào để sống thật với mình? Điều đơn giản, thế mà khó.

Về sau, tôi bắt đầu đọc sách và xem phim của thế giới XHCN. Điều kinh ngạc là nhiều tác phẩm văn học và điện ảnh không có hoặc không đậm tính tuyên truyền như các ngòi bút VN. Điện ảnh - đa số là phim thần thoại - đôi khi còn châm biếm chế độ CS bằng cách này hay cách khác. Như trong Trẻ Mãi Không Già - khi chiếu tới đoạn Vương Quốc Lừa Dối - đã khiến khán giả liên tưởng ngay sự dối trá của chế độ mới. Nhưng bộ phim thần thoại Liên Xô khiến tôi nhớ mãi là Xê-muốc.

Xê-muốc là tên một vị anh hùng dân gian như Thạch Sanh của Việt Nam.

Phim kể rằng, thưở xưa, ở một vương quốc xa xôi trên miền Bắc của đất Nga, đã có thời có một con quỷ xuất hiện. Con quỷ vô hình nhưng tài phép thần thông biến hóa. Mới đầu, nó xuất hiện ở nơi núi non hẻo lánh. Sau, nó xuống đồng bằng, vào nơi thị tứ. Ở chốn đông người, nó giả cách hóa ra thành mọi người. Thấy cha thì giả thành con, thấy vợ giả thành chồng. Giả anh, giả em, giả bà con họ hàng, giả bạn bè, thân thuộc,… Riết rồi con nghi ngờ cha, vợ giết chết chồng, anh em, họ hàng thân thích không nhìn mặt nhau. Ban đầu, chỉ là trò đùa, sau trở thành thật. Án mạng xảy ra hàng ngày. Cả thị trấn sống trong hỗn loạn. Tiếng đồn dội về kinh. Nhà vua cử ngay một sứ giả đến điều tra cho rõ hư thiệt. Con quỷ vui mừng trước thành công lớn. Khi thấy chiếc xe song mã đưa vị sứ giả vào trấn phủ, con quỷ liền biến ra sứ giả đánh xe trở về kinh thành.

Vào kinh, con quỷ càng lộng hành. Nó giả ra hết người này tới người kia. Giả quan để gièm siểm nhau. Giả vua để ban bố những sắc lệnh “trời ơi, đất hỡi”. Giả công chúa, giả hoàng hậu,... Cả triều đình sống trong sợ hãi, không ai dám tin ai. Một không khí đầy giả dối, lừa lọc, nghi kỵ bao phủ kinh thành.

Cuối cùng nhà vua ban chiếu, ai trừ được quỷ, vua sẽ nhường một nửa sơn hà. Tin tức loan ra, cả nước xôn xao. Nhiều dũng sĩ khắp nơi đều quy tụ về kinh xin đi diệt quỷ. Nhưng tất cả đều thất bại. Nhà vua càng ngày càng tuyệt vọng.

Ngày kia, có một anh chàng thi sĩ tên là Xê-muốc - người mang đàn đi hát khắp thế gian để đem niềm vui cho mọi người. Chàng đến kinh đô, hát cho vua. Tiếng hát thật hay, nhưng nhà vua không còn tâm trí nào nghe nữa. Biết nỗi lo của vua, Xê-muốc tình nguyện xin đi trừ quỷ. Vua và cả triều thần đều can ngăn, nhưng Xê-muốc vẫn nhất quyết ra đi.

Khi khảy đàn và cất tiếng hát, Xê-muốc dễ dàng nhận ra bản diện của quỷ. Bởi khi nghe tình ca, quỷ không hề rung cảm, ánh mắt nó cũng không biểu lộ sự hồn nhiên vui vẻ khi nghe những khúc hát dân gian. Không qua mặt Xê-muốc được, con quỷ chạy ra khỏi kinh thành. Xê-muốc lập tức cũng đuổi theo bén gót. Không thể hóa trang thành người được nữa, quỷ biến thành đồ vật. Nó hóa thành đống rơm, Xê-muốc nổi lửa đốt rơm. Nó ngụy trang thành đống đất, Xê-muốc dùng xẻng xúc đất lấp sông. Lập tức, nó biến thành sông khiến nước dâng ngập các cánh đồng. Xê-muốc kêu gọi dân làng khắp nơi đào kinh khơi lạch. Con quỷ thấy vậy liền biến thành ánh nắng thiêu đốt đồng lúa. Xê-muốc kêu gọi nông dân cùng nhau tưới lúa,…

Trong suốt mười năm, cuộc chiến giữa quỷ và Xê-muốc bất phân thắng bại. Nơi nào có quỷ, nơi đó có Xê-muốc. Cả hai như bóng với hình. Đến nỗi lắm lúc con quỷ có cảm tưởng Xê-muốc là bạn mà không hẳn là địch.

Một ngày kia, khi lang thang dọc bờ sông, Xê-muốc tình cờ gặp một cô gái đang giặt áo. Một cô gái xinh đẹp, hồn nhiên, và thơ ngây chưa từng thấy. Tự nhiên, Xê-muốc cảm thấy rung động, say đắm trước ánh mắt hiền dịu trong trắng của nàng. Xê-muốc bắt đầu khảy đàn, hát. Tiếng hát của chàng làm cô gái xao xuyến. Cả hai cùng trò chuyện và đi về làng. Nhưng dọc đường con quỷ đã nhân sơ hở bắt cóc nàng và tự biến thành cô gái. Gặp lại người yêu, nỗi vui mừng quá lớn khiến Xê-muốc không còn sáng suốt. Xê-muốc không nhận ra quỷ. Chàng nguyện sẽ đánh đổi tất cả chỉ để thấy nụ cười của người yêu. Cô gái (quỷ) bảo nhảy vào lửa. Không chút suy nghĩ, Xê-muốc đâm đầu vô lửa. Cô gái (quỷ) bảo, nhảy xuống nước. Không biết nông sâu, Xê-muốc lập tức nhảy ùm xuống sông,… Trước tình yêu, Xê-muốc ngoan như một con cừu. Bao nhiêu tài trí, thông minh, can trường, dũng cảm,… đều biến mất. Giờ đây, Xê-muốc đã là một Xê-muốc khác - một kẻ tầm thường, khờ khạo. Con quỷ thất vọng kinh khủng. Nó bám theo Xê-muốc đã mười năm, thế mà…

Cuối cùng, con quỷ quyết định bỏ đi. Bởi vì, nó nghiệm ra - “Nơi nào có phụ nữ, nơi đó không cần có quỷ.”

Câu kết của bộ phim khiến tôi suy nghĩ mãi. Một câu bôi bác phụ nữ, đi ngược với khẩu hiệu bình đẳng của chế độ. Nhiều chỗ còn có ý châm biếm. Vậy mà cái tay biên kịch Liên Xô vẫn bình yên và bộ phim không bị cấm. Mà không phải chỉ có Xê-muốc. Đó là chưa kể những dòng “văn chương ngoài luồng”. Người viết ở Liên Xô, Đông Âu không tuyên truyền rẻ tiền như ở Việt Nam. Không có một người Nga nào làm thơ thương Stalin hơn cha mẹ, cũng không ai ca tụng ánh mắt Lenin sáng như sao…

Sau 35 năm đất nước hòa bình, 65 năm Đảng lãnh đạo, chế độ vẫn lăm lăm khẩu súng…

Báo chí, truyền thông, văn nghệ vẫn đi theo con đường một chiều của Đảng. Kinh tế thất bại, công nợ cao như núi, xã hội tham nhũng, tuổi trẻ sa đọa, trộm cướp như rươi… Đất nước đang đứng trước nguy cơ mất đất, mất biển. Giới cầm bút vẫn im thin thít. Họ ngoan như một bầy cừu.

Mới đây, đọc bài của Trung tướng Liu-Ya-Zhou (TQ) bàn về niềm tin và đạo đức, có đoạn nhắc tới trong thời Chiến tranh Trung-Nhật, 100 lính Nhật đã áp giải được 50 ngàn lính Trung Hoa tới Yên Tử Cơ để xử bắn. Tôi liên tưởng ngay tới giới cầm bút trong và ngoài Đảng, họ giống như những người lính bó tay chịu chết. Họ cố tình nhắm mắt bịt tai trước mọi hiểm họa của đất nước.

Cái gì đã khiến cho người ta phải chịu đựng như vậy? Chữ “Nhẫn” trong tinh thần Đông Phương? Tâm lý “nín thở qua sông”? Một sự tụt hậu với thế giới, ngây ngô với thời cuộc?

Trong bài tham luận “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, ông viết, “Đất nước Việt Nam chúng ta từ khi Đảng Cộng sản cầm quyền thì dần dần đi xa khỏi quỹ đạo của sự thật. Cứ đi mãi vào quỹ đạo của sự nói dối…. Cứ nói dối mãi thì xã hội đất nước làm sao mà tiến được? Một dân tộc dối trá là một dân tộc sẽ bị diệt vong.”

Một dân tộc sắp bị diệt vong thì làm sao có thể giữ nước?

Chúng ta đang cần một cuộc giải phóng như thế - Rất cần - Trước khi quá muộn.